Ngày 20 và 21 tháng 5-2026, đoàn Famtrip - Press Trip do Trung tâm Xúc tiến đầu tư thương mại và du lịch tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng chính quyền phường Kỳ Lừa tổ chức đã đưa gần 40 nhà báo, doanh nghiệp lữ hành đi dọc những miền di tích và thắng cảnh của vùng biên viễn. Trong hành trình ấy, chùa Bắc Nga hiện ra như một khoảng thiền lặng giữa non nước Kỳ Cùng.
Chùa Bắc Nga - nơi tiên giáng bên dòng sông Kỳ Cùng
Ngôi cổ tự nằm trên sườn đồi, mặt hướng ra quốc lộ 4B và dòng sông Kỳ Cùng xanh biếc uốn mềm như một dải lụa. Dòng sông Kỳ Cùng từ lâu được xem là nét địa lý đặc biệt của vùng Đông Bắc bởi đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam không chảy ra biển trên lãnh thổ Việt Nam. Do địa hình dốc từ Đông Nam lên Tây Bắc, sông chảy ngược theo hướng Đông Nam - Tây Bắc sang Trung Quốc nên dân gian quen gọi là “dòng sông chảy ngược”. Bắt nguồn từ vùng núi cao của tỉnh Lạng Sơn, dòng sông uốn lượn qua nhiều bản làng, tạo nên cảnh quan thơ mộng và gắn bó mật thiết với đời sống người dân xứ Lạng. Đoạn cuối, sông rời Việt Nam tại cửa ải Bình Nghi thuộc huyện Tràng Định rồi chảy sang Trung Quốc, hợp lưu với sông Bằng Giang tại thị trấn Long Châu, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, trước khi hòa vào hệ thống sông Tây Giang và đổ ra Biển Đông.
Tại nơi tọa lạc chùa Bắc Nga, người xưa bảo nơi đây có thế “rồng chầu hổ phục”, nên khí đất tụ linh, mây núi hội tụ. Trước ngày 1-7-2025, chùa thuộc xã Gia Cát, huyện Cao Lộc; sau cuộc sáp nhập địa giới, nơi này trở thành một phần của phường Kỳ Lừa. Nhưng dẫu địa danh có đổi thay theo thời cuộc, tiếng chuông chùa vẫn ngân như từ mấy trăm năm trước vọng về.
Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi bước qua cổng chùa không phải kiến trúc, mà là bóng cây. Những thân cổ thụ đứng trầm mặc như các vị thiền sư già đang nhập định cùng năm tháng. Trong khuôn viên hiện còn bảy cây cổ thụ quý hiếm đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam: hai cây đại hoa trắng 700 năm tuổi, mỗi mùa nở hoa hương thơm tan vào gió như mùi hương từ cõi tịnh; hai cây đa cổ thụ 350 đến 500 năm tuổi dang tán rộng che kín khoảng sân rêu; ba cây nhãn già 150 năm tuổi lặng lẽ trổ hoa, kết trái mỗi độ hè sang. Những “bảo vật xanh” ấy không chỉ giữ bóng mát cho ngôi chùa ven sông mà còn giữ lại phần hồn xưa cũ của miền đất này.
Tiếng gió thổi qua lá đa nghe như tiếng mõ tụng kinh. Mùi hoa đại quyện với khói nhang thành một thứ hương thiền bảng lảng. Trong không gian ấy, con người dường như nói khẽ hơn, bước nhẹ hơn.
Chùa Bắc Nga không đồ sộ. Kiến trúc và bài trí đều giản dị. Nhưng chính sự mộc mạc ấy lại khiến nơi này có vẻ đẹp riêng, giống như một câu kinh cổ không cần tô son thếp vàng mà vẫn khiến lòng người lắng xuống. Điều đặc biệt nhất của chùa là hệ thống tượng cổ bằng đất sét. Những pho tượng không nhiều, song mỗi pho tượng đều mang thần thái rất lạ, vừa gần gũi vừa huyền hoặc. Trên tòa Tam bảo chỉ có hai hàng tượng. Cao nhất là tượng A Di Đà ngồi kiết-già, thân khoác áo vải vàng và cổ đeo vòng bạc. Dưới Ngài là ba pho tượng khác: ở giữa là tượng người đàn ông đầu cạo trọc như một vị chân tu; hai bên là hai pho tượng nữ cao niên. Tất cả đều mặc áo vải. Người trông chùa bảo rằng dân làng chỉ truyền nhau đây là tượng Sư Tổ và hai vị Phật Bà, còn danh tính thực sự của các Ngài đã chìm vào sương khói thời gian.
Ở gian tiền đường còn có pho tượng Đức Ông mặc áo vải cũ. Những pho tượng ấy được người dân tin rằng đã có từ thời nhà Mạc hoặc thời Lê Trung hưng, cùng thời với buổi đầu dựng chùa. Qua nhiều lần trùng tu, người ta chỉ sơn sửa chứ không thay đổi hình dáng nguyên bản, như giữ lại hơi thở của quá khứ.
Chùa Bắc Nga còn là nơi lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa bằng chữ Hán Nôm. Nơi đây hiện còn bốn bia đá và 21 bản khắc kinh Phật bằng gỗ cùng nhiều tư liệu cổ khác. Những tấm bia như những cánh cửa mở vào miền ký ức.
Tấm bia thứ tư là bia cổ nhất tại đây - dựng năm Nhâm Tuất - 1562, thời nhà Mạc, kể chuyện một bà lão nằm mộng thấy Thần rồi phát tâm dựng miếu và đào giếng bên đường. Từ một ngôi miếu nhỏ, theo năm tháng nơi đây thành đền rồi thành chùa. Như vậy, chùa Bắc Nga đã hiện diện hơn bốn thế kỷ giữa miền sơn cước.
Tấm bia dựng năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) ghi lại việc trùng tu ngôi chùa từ mái lá đơn sơ thành mái ngói. 60 năm sau, vào năm Thành Thái thứ 13 (1901), các quan viên và dân chúng địa phương tiếp tục công đức tôn tạo. Tấm bia khác ghi việc sửa sang tượng thờ, đồ tế khí. Bia năm Bảo Đại thứ 2 (1927) kể chuyện gia đình bà Lũng Thị Đao hiến ruộng cho bản chùa. Mỗi tấm bia là một tiếng chuông đá, ngân vang câu chuyện về lòng người hướng Phật qua bao thế hệ.
Nhưng có lẽ điều khiến chùa Bắc Nga trở nên linh thiêng hơn cả không nằm ở kiến trúc hay cổ vật, mà nằm trong huyền tích về các nàng tiên.
Người già Bắc Nga vẫn kể rằng thuở xưa, khi trời đất còn gần nhau, các tiên nữ thường bay xuống hạ giới dạo chơi. Một lần ghé qua vùng đất bên sông Kỳ Cùng, thấy nước xanh như ngọc, núi non mây phủ, các nàng đã bỏ xiêm y bên bờ để tắm mình trong dòng nước mát. Rồi họ lên núi hái hoa, bắt bướm đến tận chiều tà mới trở về thiên giới.
Có lần, các nàng tiên báo mộng cho một bà lão đốn củi rằng nơi đây là đất lành, cảnh đẹp, các nàng muốn ở lại không về trời nữa. Bà lão đem chuyện kể cho dân làng, mà dân làng vốn cũng từng thấy bóng tiên thấp thoáng bên rừng, bên sông. Từ niềm tin ấy, họ góp công góp của dựng miếu thờ Tiên, mong được phù hộ cho mùa màng tốt tươi, gia đình yên ấm.
Dần dần, miếu Tiên hòa vào cửa Phật. Đạo thờ Tiên, tục thờ Mẫu và Phật giáo cùng gặp nhau trong một mái chùa nhỏ. Chùa Bắc Nga vì thế trở thành biểu tượng của sự giao thoa tín ngưỡng dân gian Việt cổ - nơi con người vừa cầu Phật độ trì, vừa mời Tiên về phù hộ cho đời sống bình an.
Theo dòng lịch sử, chiến tranh và thời gian đã nhiều lần làm chùa hư hại. Ngôi chùa được trùng tu vào các năm 1995, 1998, 2008… thay mái, đảo ngói, xây tường bao và sân chùa để tiếp tục gìn giữ nơi nương náu tâm linh cho người dân.
Nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là mùa hội chùa. Mỗi năm, vào ngày rằm tháng Giêng, người dân khắp nơi lại tìm về Bắc Nga. Hương khói bay lên giữa sương xuân bảng lảng. Trong phần lễ, người ta dâng hương mời Tiên, mời Phật về chứng giám cho lòng thành. Ngoài sân, tiếng trống hội vang lên cùng tiếng múa sư tử, tiếng reo hò của những cuộc kéo co, đẩy gậy.
Rồi khi chiều buông xuống triền núi, các chàng trai cô gái Tày, Nùng lại cất tiếng Sli, lượn. Những câu hát giao duyên ngân dài giữa gió núi, mềm như khói bếp, trong như nước Kỳ Cùng. Tiếng hát ấy dường như đã vang nơi này từ mấy trăm năm trước, từ khi các nàng tiên còn ghé xuống nhân gian.
Năm 2002, chùa Bắc Nga được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Đến ngày 14-2-2023, lễ hội truyền thống chùa Bắc Nga được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Nhưng có lẽ, danh hiệu lớn nhất của ngôi chùa này không nằm trên những văn bản hành chính. Danh hiệu ấy nằm trong lòng người. Là khi ai đó đứng dưới bóng đại 700 năm tuổi, nghe gió thổi qua lá mà tưởng như nghe tiếng thời gian rơi chậm. Là khi nhìn dòng Kỳ Cùng lặng lẽ trôi dưới chân đồi, lòng bỗng nhẹ như vừa buông xuống một điều hệ lụy. Và là khi tiếng Sli cuối chiều tan vào mây núi, người ta chợt hiểu rằng có những miền đất không chỉ để đến, mà để lắng nghe.
![]() |
Tượng thờ trong chùa Bắc Nga |
Tư liệu Hán Nôm chùa Bắc Nga
Trong chuyến Famtrip - Press Trip vừa qua, lãnh đạo phường Kỳ Lừa và cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp cho chúng tôi tư liệu Hán Nôm của chùa Bắc Nga. Theo tài liệu này, ngày 23-4-2023, đoàn khảo sát của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã về khảo sát, chụp ảnh và in dập bia văn khắc tại chùa Bắc Nga. Qua khảo sát, đoàn nghiên cứu thống kê thấy chùa Tiên Nga (tức chùa Bắc Nga) còn một số câu đối và hoành phi, 4 văn bia, 21 văn in linh tiêm.
Theo tài liệu, hiện nay chùa Bắc Nga còn lại 4 văn bia. Bia số 1 có kích thước 65cm x 46cm, bia số 2 có kích thước 110cm x 68cm, bia số 3 có kích thước 56cm x 36cm, bia số 4 có kích thước 50cm x 30cm.
Bia số 1, được phiên âm như sau: LỘC BÌNH CHÂU, HOÀI VIỄN TỔNG, BẮC NGA XÃ, TIÊN NGA TỰ TRÙNG TU BI KÝ. Thường văn: Chư danh lam hữu vi chi tiền giả tất hữu vi chi kế. Cái hữu vi chi tiền giả cơ kỳ thủy nhi hữu vi chi kế giả thủy khả niên niên đại đại truyền chi vô cùng dã. Tiên Nga tự thuộc bản Lộc Bình châu, Bắc Nga xã phận sơn cước lược Khoan Bình xứ, cựu truyền mao ốc số gian, tuế cửu nhi hoại, hiện phụng ngõa ốc. Minh Mệnh thập bát niên Đinh Dậu, tiên quân tử phong công thực thủy cơ chi. Thử địa hữu long bàn hổ phục, tiền diện nhất thúc hoàn lưu chí Kỳ Cùng, sơn minh thủy tú, thiêm bốc linh ứng, kinh kim lục thập hữu dư niên hỷ. Dư bằng thế ấm trùng trấn phan cán, chân tính tố khắc, tức tâm thị Phật. Tuế Kỷ Hợi công hạ đăng lâm phủ ngưỡng gian thủy sắc sơn quang, kỳ do tạc dã. Đệ nhất chính nguyệt mại, sắc tướng trần xâm, quan giả thù khiếm nhã yên. Viên xuất tư tịnh phổ khuyến văn biện các sắc nhân đẳng, thấu thành ngân bát bách nguyên, giao y xã cựu Chánh tổng thiện dĩ thị niên lục nguyệt nhật hưng công, tiền thổ bế môn nhất diện hoa biểu nhất đối; hậu kiến chính đường tam gian, di chư Phật tượng dĩ phụng kỳ hiện phụng tam gian, trung gian bái vị tả hữu các an Phật tượng nhị vị, không kỳ hậu diện lưỡng lang tương liên thuộc vu chính đường. Lục nguyệt nhi thành, sắc tướng huy hoàng chế độ hoán nhiên nhất tân ư thị phụ lão tiến nhi ngôn viết: Tích ngã Tiên Nga vi hồ vi giả dã. Lục thập niên tiền tiên công tẩm thủy cơ chi, lục thập niên hậu ngã công hựu quang đại chi vô dĩ vi báo sở kỳ viên phúc quả, bỉ ngạn từ hàng. Thỉnh dĩ vị tiên công ngã công tụng, dư ứng chi viết: Hữu thị tại! Trù tích chi nhật, ngã tiên nghiêm dữ nhất nhị kỳ lão tòng tân sáng tạo dân chính chi hạ ư yên, tiêu dao nhạc hà như dạ. Kỳ phúc nhật phồn nhương tinh nhật chúng cựu chế phả bất năng dung. Dư tòng nhi tăng quảng chi, diệc dục duân niên mạnh xuân nguyệt, dữ nhân đồng lạc dĩ vô vong ngã tiên nghiêm sáng tạo chi sơ yên nhĩ. Nhược phù báo ứng chi thuyết thị tại nhất thiết thế nhân chiêm tử khí nhi tùy đồng quy vạn thiện dã. Khả ký khánh thành lược đăng kỳ sự vu thạch nhân dĩ thị thuyết thời.
Thành Thái thập tam niên tam nguyệt cốc đán lập. Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Tổng đốc Tuần phủ Lạng Bình đẳng xứ địa phương Đề đốc Quân vụ kiêm Lý lương hưởng Tràng phái nam Vi bi ký. Thuộc tỉnh Binh ti Chánh bát phẩm Châu Ân Nguyễn Đan Quỳnh bái thư.
Dịch nghĩa: BIA GHI VIỆC TRÙNG TU CHÙA TIÊN NGA XÃ BẮC NGA, TỔNG HOÀI VIỄN, CHÂU LỘC BÌNH. Thường nghe: Các danh lam thắng tích, có người trước làm nên nó thì tất có người sau kế thừa phát triển. Có người trước đặt nền móng đầu tiên thì mới có người kế tục bắt đầu truyền năm này qua năm khác, đời này qua đời khác, cho đến vô cùng. Chùa Tiên Nga ở chân núi xã Bắc Nga, châu Lộc Bình, xứ Khoan Bình, xưa truyền rằng ngôi chùa gồm mấy gian lợp cỏ tranh, năm tháng dài lâu thành ra hư hại, nay đã được lợp ngói. Năm Đinh Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 18 (1837), từ khi tổ tiên là bậc quân tử được phong đất này, thực mới bắt đầu đặt nền móng. Đất này có thế rồng chầu, hổ phục, trước mặt có một con đường lượn quanh đến tận sông Kỳ Cùng, núi sông tươi đẹp, quẻ bốc được thật linh ứng vậy, đến nay đã hơn 60 năm rồi. Ta nhờ phúc ấm tổ tiên truyền lại mà ra sức giữ yên đất này, tu dưỡng bản tính thuần hậu, lòng không tạp niệm như Đức Phật. Đến năm Kỷ Hợi (1839), cha ta nhân lúc rảnh tới nơi này, thấy cảnh sắc núi sông chung quanh vẫn như xưa. Nhưng tháng ngày trôi qua, vẻ sắc nhuốm bụi trần, người ngắm xem không khỏi cảm thấy đổi khác. Ta bèn xuất tiền của riêng cùng với quyên góp công đức quan lại chức sắc, gộp được 800 đồng, giao cho cựu Chánh tổng xã ấy giữ, để tháng 6 năm ấy khởi công. Trước thềm có xây cái bình phong bằng gạch một mặt trang trí hoa đối xứng. Sau đó, xây chính đường có 3 gian. Chuyển tượng Phật vào để thờ ở ba gian thờ hiện nay. Gian giữa thờ hai vị Phật có tượng bày ở hai bên trái phải. Phía sau để trống liền với hai hành lang thuộc về chính đường. Sáu tháng thì việc hoàn thành, vẻ sắc huy hoàng, quy củ rõ ràng, hoàn toàn mới mẻ, nên các bậc phụ lão tới mà thưa rằng: Chùa Tiên Nga ngày đã đẹp lắm lại càng đẹp thêm, 60 năm trước bậc tiên công thực đã đặt nền móng, 60 năm sau cha của ta lại tỏ rõ công đức, không biết lấy gì báo đáp trái phúc vườn thiêng, để thuyền từ cập bến. Xin dành lời ca tụng bậc tiên công và cha ta, ta ứng lời rằng: Có như vậy chăng! Ôi ngày xưa cha ta cùng một vài bậc kỳ lão đặt ra những chính sự mới mẻ cho dân về nghỉ ngơi ở nơi này, thật tiêu sái nhường nào. Cúng cầu cho ngày phúc, ngày họa, tất cả những điển chế cũ đều khá chẳng thể bao chứa hết, nên ta theo đó mà mở rộng thêm, cũng muốn tháng đầu xuân hàng năm cùng với mọi người chung vui để không quên cái sáng tạo ban đầu của cha ta vậy. Nếu chuyện báo ứng thực tồn tại thì tất thảy mọi người trên đời phải nhìn thấy khí thiêng và điềm lành mà cùng đến với muôn điều thiện lành. Cho nên khi đã khánh thành lược đăng việc đó vào bia, nhân đó gộp mà kể lại như vậy.
Ngày tốt tháng 3 năm Thành Thái thứ 13 (1901) lập bia. Bài văn bia của Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Tổng đốc Tuần phủ các xứ Lạng Bình, Đề đốc Quân vụ địa phương kiêm Lý lương hưởng Tràng phái nam họ Vi. Thuộc tỉnh Binh ti Chánh bát phẩm Châu Ân Nguyễn Đan Quỳnh kính cẩn viết.
Chú thích: Vi Kim Thăng tên chữ là Đinh Mật, quê ở Nghệ An, từng theo Lê Lợi khởi nghĩa đánh giặc Minh, được liệt vào hàng khai quốc công thần, được triều đình phong chức Trụ quốc, tước Thảo lộ tướng quân Tả đô đốc, Mật quận công. Năm 1431, vua Lê Thái Tổ cử con trai ông là Vi Phúc Hân (Đô đốc Đồng Tri Hoàn quận công) lên trấn giữ biên giới phía Bắc, cho lấy châu Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn làm quê quán, đời đời làm phiên thần trấn thủ biên thùy không cho về quê nữa, “tập tước thổ ty” và nhiều người được phong làm Quận công trong nhiều thế hệ từ đời nhà Hậu Lê đến triều Nguyễn. Vi Thế Tuân (1781-18) là Hiệp biện đại học sĩ. Tràng Phái nam họ Vi là Tổng đốc Vi Văn Lý (1830-1905).
Bia số 2, được phiên âm là: TIÊN NGA NỘI TỰ TRÙNG TU BI KÝ. Cái văn: Tây Thiên khai đàm vân tuệ nhật chi hoa, Đông Thổ biến ái hải phúc điền chi cảnh. Cổ nhân tạo kiều lương dĩ tế nhân xích tố, thượng lưu ư mộc thạch, thiết lâu đài nhi phụng Phật. Thốn công thả ký ư đan thanh. Nhân hữu thiện nguyện thiên tất tòng chi bạt hữu dĩ dã. Kim thuộc hạt chi Cao Lộc châu, Hoài Viễn tổng, Hoài Viễn xã, Tiên Nga tự danh lam cổ tự, thánh tích viễn truyền củng hướng quần phong, viễn hồi chúng thủy tác nhất địa phương linh dị chi địa. Tự lai gian hoặc tăng tạo chi tu bổ chi. Tiền nhân công đức diệc dĩ cố hữu đệ nội tự nhất tòa cập Phật tượng. Nhật chinh nguyệt mại, cơ trận phong sương, kỳ tượng pháp trần ô, ốc thiềm đố tẩm. Đạo tâm giả khởi khả điềm nhiên! Tư tinh hạt Bắc môn phố nhân, Vĩnh Lợi, hiệu Đinh Thị Nhị (tức Thị Đức Càn), quán Hải Dương tỉnh, Bình Giang phủ, Cẩm Giàng huyện, Hàn Giang xã Phượng Cáo thôn, tự xuất gia tư hưng công tu bổ nội tự tam gian. Duy Phật tượng vị sắc tướng, kim thân mạc cảm tự tiện cố niệm thường tâm thường sản bất năng bất ỷ, chư gia vị đức vị công ninh khả tự chuyên nhất dĩ, nhân dĩ sự bái bẩn bản tỉnh Chánh sứ tòa Đại thần Phủ bộ Đường quan đại nhân các hạ, duyệt y phó hứa bút tích, cập sở tại tổng lý hương hào áp nhận triện tự vi bằng, tiện đắc thừa hành phổ khuyến hạt nội, thành phố liệt quý tịnh châu nha lý ấp thân hào chức dịch chư viên, dữ nhân gia thiện tín tâm sản hộ trợ, hợp lại thành phong mông đắc viên hoàn phúc quả. Thị niên, trọng đông trung hoán hoàn, thuận Khánh Hội xứ, kỳ chiêm bái: Thượng dĩ cách chư Phật, hạ dĩ đạt chư nhân, du tập nhân nhân chi phúc, khởi bất vĩ tai! Viên thư vu thạch mậu ký công đức dĩ thọ kỳ truyền, dữ tuệ nhật thường huy vân nhĩ. Thị vị tự. Minh viết:
Tiên nga tự vũ,
Đại phàn phong thanh.
Hữu sơn hữu thuỷ,
Hữu tiên hữu danh.
Giang ô tuấn liệt,
Sơn ủng thúy bình.
Tuần trừ mịch quắc,
Củng hướng hồi doanh.
Viên tu viên bổ,
Chi kinh chi doanh.
Hợp lực tâm sản,
Tác phúc viên thành.
Hữu thử công đức,
Nghi lặc công minh.
Lạng Sơn, Vĩnh Lợi hiệu Đinh Thị Nhị tức Thị Càn lập. Hoàng triều Bảo Đại vạn vạn niên chi thất, tuế tại Nhâm Thân trọng Đông nguyệt trung hoán.
Bài văn bia này được cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa: BIA GHI VIỆC TRÙNG TU BÊN TRONG CHÙA TIÊN NGA. Thường nghe: Miền Tây Thiên nở đóa hoa mây lành trời tuệ; đất Đông Thổ là chốn biển ái ruộng phúc. Người xưa dựng cầu để giúp người qua lại, lại còn chuộng việc lưu giữ gỗ đá dựng thành lâu đài để thờ Phật. Một tấc lòng công đức cũng ghi lại rõ ràng, người có lòng tốt thì trời sẽ theo cái điều tốt đẹp ấy mà phù trợ cho vậy.
Nay ở xã Hoài Viên, tổng Hoài Viễn, châu Cao Lộc có chùa Tiên Nga là nơi danh lam cổ tích, dấu Thánh lưu truyền; núi non chầu lại, sông suối từ xa chảy vòng lại tạo nên mảnh đất sơn thủy linh ứng kỳ lạ. Từ đó tới nay có người đã từng bồi đắp, tu sửa thêm. Các bậc tiền nhân đã góp phần công đức nên đã tu sửa được phần trong chùa một tòa, cùng các tượng Phật. Năm tháng trôi qua, trải bao lần sương gió, tượng Phật và nhà cửa xiêu vẹo, trần nhà mối mọt nhiều. Những người có lòng tôn kính, há lại điềm nhiên được chăng! Nay có người ở phố Bắc Môn, Vĩnh Lợi, tên hiệu là Đinh Thị Nhị (tức Thị Đức Càn), quê quán ở thôn Phượng Cáo, xã Hàn Giang, huyện Cẩm Giàng, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, tự xuất tiền của gia đình mang ra tu sửa ba gian bên trong chùa. Duy có tượng Phật sắc tướng màu vàng nên bà không dám tự tiện tô vẽ. Lại tự nghĩ rằng lòng thường sản thường tâm, dù có đức, có công cũng không thể chỉ dựa vào một nhà mà thành được, nên bà đem sự việc ấy bảo với tòa Chánh sứ, quan Đại thần và các vị quan trong tỉnh nhà, muốn dựa vào chữ ký của các quan và tổng lý, hương hào sở tại, đóng dấu để làm bằng, mở rộng việc quyên góp từ các gia đình thiện tâm, các tín vãi đến các vị chức sắc, lý dịch ở trong nội hạt, thành phố trợ giúp góp gió thành bão mong cho quả phúc được hoàn thành. Năm đó, đến giữa mùa đông (tháng 11) thì hoàn tất, và hội Khánh thiện tới đây làm lễ cầu đảo: Trên thấu đến chư Phật, dưới thỏa được lòng người. Đó là quả phúc to lớn của muôn người, há chẳng vĩ đại lắm thay! Bèn ghi vào đá, mở rộng công đức để truyền mãi về sau, cùng với ánh sáng tuệ sáng mãi vậy. Do vậy làm bài tựa.
Bài minh rằng:
Ngôi chùa Tiên Nga
Tiếng tăm lừng lẫy
Có núi có sông
Có tiên có Phật
Núi sông che chở
Vòng cuốn xung quanh
Nào xây nào cất
Sông dài uốn lượn
Nào tu nào bổ
Nào trù nào hoạch
Dốc sức hằng tâm
Vun quả phúc lành
Có công đức ấy
Nên khắc công danh.
Lạng Sơn, Vĩnh Lợi, tên hiệu là Đinh Thị Nhị tức Thị Càn dựng.
Ngày trung tuần tháng 11 năm Nhâm Thân, niên hiệu Hoàng triều Bảo Đại thứ 7 (1932).
Bia số 3 có tên là TIÊN NGA TỰ BI, phiên âm như sau: Lạng Sơn tỉnh, Cao Lộc châu, Hoài Viễn tổng Ngao Thị xã, Bàng Thị Đao tịnh mẫu đệ đẳng vi cung đức điền lập kiệt. Sự duyên thị hữu nhập Tiên Nga tự, Đồng Phúc hội sở hữu tạo, mãi đắc điền tại Bắc Nga xã, hiệu Nà Cống xứ, thập khảm, dụng ương nhị, cập: Đông cận điền Ngọc Thi, Tây cận điền Ngọc Thi, Nam cận điền Ngọc Thư, Bắc cận điền Vân Trí; tứ chí giá ngân thập tứ nguyên, hứa Đặng Ngọc Văn lĩnh canh. Đệ niên đắc túc phân nhị.
Tư thị thành tâm tương giá xứ điền, giao Đồng Phúc hội chủ, Nguyễn Xuân Huy, đồng chức dịch hội nhân, nhận tương cúng đức nhập Phật, vĩnh truyền hương danh vô ký. Hệ mỗi niên, đắc điền túc lợi can, dĩ vi xuân hội, biện lễ cúng Phật chi nhu. Lễ ngật, tùy hội tướng thừa huệ đẳng hạng, phân tống cung đức chi nhân, đa thiểu hợp tình vi thỏa, dĩ cảm kỳ thành nhi hưởng lộc cầu an giả dã. Thử vi tự. Nhưng tướng giá điền khế, giao hội nội chấp bằng.
Bảo Đại nhị niên, thập nhất nguyệt, nhật lập kiệt, Bàng Thị Đao bái cúng.
Văn bia này được cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa: BIA CHÙA TIÊN NGA. Bà Bàng Thị Đao cùng mẹ và các em ở xã Ngao Thị, tổng Hoài Viên, châu Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn vì việc cúng ruộng công đức mà lập bia. Duyên vì bà có gia nhập hội Đồng Phúc của chùa Tiên Nga, mua được thửa ruộng ở xứ Nà Cống, xã Bắc Nga, gồm 10 khoảnh, trong đó ruộng mạ là hai: phía Đông giáp ruộng Ngọc Thi, phía Tây giáp ruộng Ngọc Thi, phía Nam giáp ruộng Ngọc Thư, phía Bắc giáp ruộng Vân Trí; Đông Tây bốn phía giá tiền 14 đồng, giao cho ông Đặng Ngọc Văn nhận canh tác. Hàng năm được bao nhiêu thóc chia làm hai.
Nay Bà thành tâm giao lại ruộng ở xứ này cho ông hội chủ của hội Đồng Phúc là Nguyễn Xuân Huy, cùng các chức dịch hội viên của hội nhận đem công đức nhà Phật để hương khói lưu truyền muôn thuở. Hễ hàng năm thu được bao nhiêu hoa lợi thì hội sẽ biện lễ cúng Phật vào mùa xuân. Lễ xong tùy hội sẽ phân phát, mọi người cùng hưởng lộc Phật. Hội sẽ phân chia nhiều ít cho hợp tình để mọi người thỏa lòng và thông cảm, lòng thành mà hưởng lộc cầu an vậy. Vì thế mà làm lời tựa vậy. Lại cùng làm tờ khế ước ruộng giao cho người trong hội giữ làm bằng. Ngày tháng 11 năm Bảo Đại thứ 2 (1927) dựng bia. Bàng Thị Đao bái cúng.
Bia số 4, có tên TÂN TẠO, được phiên âm: Nhất ư tư thùy bà ngoại xuất hành Mi Nga mộng kiến thần tiên, hưng công lập miếu thần. Cao sơn thủy trầm thiên bất nhân. Trưởng lão kiến phát nhân hộ dữ nông gia hợp ý khai tỉnh thủy chi, du lộ ngẫu can tàm thủy trầm lao bất dụng tẩy cước. Công đức vạn đại hưng công chi thọ. Nhâm Tuất niên trọng Hạ… nhật, khai tỉnh.
Văn bia này được dịch nghĩa: Ở chỗ này có chuyện kể lại rằng, có một bà bên ngoài đi đến núi Mi Nga mộng thấy thần tiên, bèn khởi công xây miếu Thần. Núi cao sông sâu thật khó chiều lòng người. Các vị trưởng lão phát hiện có người giúp đỡ hợp ý người làm nông đào một cái giếng để lấy nước ở đấy. Người qua đường khát uống, thấy nước sâu không dùng rửa chân. Công đức đến muôn đời, lập công quả lưu truyền mãi. Ngày tốt tháng 5 năm Nhâm Tuất, đào giếng...
Theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm, không xác định được niên đại dựng tấm bia này là năm nào, nhưng sơ bộ nhận định bia rất cổ, xuất hiện khoảng thời kỳ Hậu Lê. Năm Nhâm Ngọ trong thời kỳ này gồm các năm 1442, 1502, 1562, 1622, 1682, 1742.
Ván khắc, câu đối, hoành phi, chuông ở chùa Bắc Nga
Tại chùa Bắc Nga hiện còn 21 ván khắc cổ. Mỗi ván có 2 mặt, mỗi mặt là một quẻ tiêm. Các ván tiêm có kích thước 32cm x 21cm, dày khoảng 2cm. Về hình thức bên ngoài cho thấy rất nhiều ván bị mối ăn mòn hết chữ, một số ván bị nứt và vỡ. Như vậy, 21 ván hiện nay in dập được 42 quẻ tiêm. Các ván Linh tiêm này được khắc lối chữ Khải thư, theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhận định được khắc vào cuối thời Lê Trung hưng. Các quẻ tiêm này hầu hết đều bị mòn, có quẻ hầu như không nhận dạng được chữ nào. Đây là bản in để đóng thành quyển vì một quẻ chia làm 2 phần, ở phần giữa để trống một ô dọc để gập đôi có ghi số trang và tên sách Tiên Nga linh tiêm, phần trán trên ghi Bình Lộc, Tiên Nga tự linh tiêm số thứ tự quẻ và tên quẻ. Nội dung trong một ván chia ra các quẻ:
Thượng, Thượng cát, Thượng quái, Trung, Hạ, Trung hạ, Đại cát, Trung cát, Hạ cát, Hạ hạ, Trung bình, Thượng thượng, Thượng đại cát… Mỗi quẻ chia ra các đầu mục, có tất cả 16 đầu mục. Mỗi đầu mục đọc từ trên xuống, từ bên phải sang bên trái. Mỗi mục gồm có 4 câu thơ tứ tuyệt 7 chữ Hán được trình bày theo hàng dọc 2 câu trên và 2 câu dưới. Nội dung gồm có mở đầu có giải thích tổng quát của quẻ và cuối mỗi quẻ đều có lượng tính của quẻ: (1) Tổng giải (giải thích tổng quát); (2) Cầu danh (cầu được công danh); (3) Gia trạch (nhà ở); (4) Hôn nhân (việc hôn nhân); (5) Thất vật (mất đồ vật); (6) Sinh sản (việc sinh đẻ); (7) Mưu vọng (mưu cầu ước vọng); (8) Lục súc (nuôi lục súc); (9) Di cư (chuyển chỗ ở); (10) Hành nhân (người đi đường); (11) Tầm nhân (tìm người); (12) Tật bệnh (bệnh tật); (13) Từ tụng (kiện tụng); (14) Phần mộ (mồ mả); (15) Xuất hành (đi xa); (16) Lượng tính (tính toán tổng quát).
Hiện nay chùa Tiên Nga còn lại 3 đôi câu đối bằng gỗ, được sơn son thếp vàng, khắc theo lối chữ Khải thư rất đẹp, nét chữ sắc sảo, gian chính giữa treo 2 đôi câu đối, một đôi ở cột ngoài và một đôi ở cột trong. Còn một đôi câu đối treo ở gian bên trái (từ ngoài nhìn vào).
Đôi số 1 treo ở hai cột gỗ gian chính giữa phía ngoài, phiên âm: “Tiên Phật từ bi, tế độ chúng sinh đăng giác ngạn/ Nga sơn tú lệ, chung linh địa mạch hộ thiền môn”. Dịch nghĩa: “Tiên Phật lòng lành, giúp đỡ muôn dân lên bờ giác/ Núi Nga tươi đẹp, tụ khí đất thiêng giữ cửa thiền”. Đôi số 2 treo ở hai cột gỗ gian chính giữa phía trong, phiên âm: “Bát-nhã thuyền thanh, Kỳ thủy trừng ba nghênh tuệ nhật/ Bồ-đề thụ cổ, Nga sơn túc vũ bão từ vân”. Dịch nghĩa: “Thuyền Bát-nhã thanh cao, sông Kỳ trong sóng đón ánh mặt trời/ Cây Bồ-đề cổ thụ, núi Nga đêm mưa ôm đám mây lành”. Đôi số 3 treo ở hai cột gỗ gian bên trái từ ngoài nhìn vào, phiên âm: “Thủy nhiễu tiền môn, thanh tịnh trừng ba quy giác hải/ Sơn hoàn hậu điện, nguy nga tú bích hộ thiền lâm”. Dịch nghĩa: “Nước cuộn trước cửa, sóng trong thanh tịnh hướng về biển giác/ Núi bao sau điện, vách đẹp nguy nga che chở rừng thiền”.
Hiện nay chùa Bắc Nga còn lại 1 bức hoành phi treo ở gian chính giữa, bức hoành phi làm bằng gỗ tốt sơn son thếp vàng nền then, chữ Khải thư lớn, phiên âm “TIÊN NGA TỰ”. Cùng với đó, chùa còn lại 1 bức đại tự treo ở gian bên phải, bức đại tự được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng nền then chữ lớn. Bức đại tự này do dòng họ Vi công đức vào chùa, với dòng chữ “THIỆN TỐI LẠC”, dịch nghĩa: “LÀM ĐIỀU THIỆN LÀ VUI NHẤT”. Trên bức đại tự, dòng chữ nhỏ bên phải ghi: “Hoàng triều Bảo Đại ngũ niên tuế thứ Canh Ngọ trọng thu cát đán”. Dòng chữ nhỏ bên trái ghi: “Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Tổng đốc Lạng Bình Vi Văn Định bái tiến”.
Hiện nay chùa Bắc Nga còn giữ được 1 quả chuông đồng cổ. Chuông cao 75cm, đường kính miệng chuông 40cm. Chuông có 4 núm gõ gọi là (nhương), phần trên góc chuông có hai con rồng quay đầu vào nhau làm quai chuông. Trên thân chuông chia ra làm 4 ô dọc, hai ô đối nhau khắc chữ Hán, còn hai ô để trơn. Chữ khắc theo lối chữ Chân. Phiên âm văn chuông: TIÊN NGA TỰ CHUNG. Lạng Sơn tỉnh, Cao Lộc châu, Hoài Viễn tổng, Bắc Nga xã, Tiên Nga tự. Kim vì đúc hồng chung bản tự, trụ trì điều phát, Thích Thanh Bản, phổ khuyến thập phương thiện tín, nam nữ, chức dịch, quyên tài, góp sức trùng đúc hồng chung, vĩnh viễn lưu truyền. Hoàng triều Bảo Đại thập tứ niên Tuế thứ Kỷ Mão trọng thu nguyệt cát đán lập. Dịch nghĩa: CHUÔNG CHÙA TIÊN NGA. Chùa Tiên Nga, xã Bắc Nga, tổng Hoài Viễn, châu Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Nay vì việc đúc chuông lớn của chùa, nhà sư trụ trì là Thích Thanh Bản đứng lên kêu gọi khuyến giáo thiện nam tín nữ, chức dịch mười phương quyên góp tiền của, công sức để cùng đúc quả chuông lớn này, lưu truyền mãi mãi về sau. Ngày tốt tháng 8 năm Kỷ Mão niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (1939) lập.







