Vấn đề nhân cách của người tu
Trong suốt 45 năm, tôi đã gặp gỡ, học hỏi và tu tập dưới sự hướng dẫn của những bậc thầy tâm linh thực sự phi thường. Tôi từng học với các vị thầy nổi tiếng trong Phật giáo và Đạo giáo, lắng nghe những bậc thầy Sufi và tiếp xúc với những hành giả thành tựu thuộc nhiều truyền thống khác nhau. Một số người không chỉ là những bậc hướng dẫn tâm linh xuất sắc mà còn là những con người đáng kính.
Trong suốt 45 năm, tôi đã gặp gỡ, học hỏi và tu tập dưới sự hướng dẫn của những bậc thầy tâm linh thực sự phi thường. Tôi từng học với các vị thầy nổi tiếng trong Phật giáo và Đạo giáo, lắng nghe những bậc thầy Sufi và tiếp xúc với những hành giả thành tựu thuộc nhiều truyền thống khác nhau. Một số người không chỉ là những bậc hướng dẫn tâm linh xuất sắc mà còn là những con người đáng kính.
Nhưng tôi cũng từng quen biết và tu tập dưới sự hướng dẫn của một số người có trình độ thực hành rất cao, song lại biểu hiện nhiều đặc điểm dường như liên quan đến rối loạn nhân cách chống đối xã hội, các đặc điểm thái nhân cách hoặc, ở mức độ ít nghiêm trọng hơn, rối loạn nhân cách ái kỷ. Một số quy tụ đông đảo đệ tử và kiểm soát họ theo những cách có thể được mô tả là mang tính giáo phái sùng bái cá nhân. Những người khác sống nay đây mai đó, di chuyển từ nơi này sang nơi khác và lợi dụng bất cứ cơ hội nào xuất hiện.

Cách dễ dàng nhất để lý giải hiện tượng này là cho rằng họ đều là những kẻ lừa đảo, còn các thành tựu tâm linh của họ chỉ là một phần trong sự dối trá. Điều đó quả thực có xảy ra. Tuy nhiên, một số người đã thể hiện những năng lực đặc biệt, hay siddhi, được thừa nhận trong truyền thống của họ. Những năng lực ấy bao gồm trực nhận bản chất của tâm, làm chủ các dòng năng lượng nội tại, chữa lành (hoặc gây tổn hại) thông qua nghi lễ hay tác động từ xa, cũng như ảnh hưởng đến trải nghiệm nội tâm của người khác bằng năng lực tâm linh. Một số người còn tạo ra những trường cảm nhận về ánh sáng và sự rộng mở mà nhiều đệ tử, người tham dự cùng lúc cảm nhận được, kể cả những người không có nền tảng về huyền học phương Đông.
Những hành giả thành tựu này không phải người mới bước vào con đường tâm linh, cũng không phải những kẻ giả danh có sự tu luyện mà thực tế họ không hề trải qua. Họ đã dành hàng chục năm thực hành những phương pháp quán chiếu vô cùng tinh vi và, theo tiêu chuẩn của truyền thống cũng như cộng đồng của mình, đã đạt đến trình độ làm chủ khác thường.
Thế nhưng, đã có điều gì đó diễn ra hết sức sai lệch.
Dù có sức lôi cuốn, kiến thức sâu rộng và trình độ tâm linh gây ấn tượng, họ vẫn có thể thao túng, bóc lột và lừa dối người khác. Trong những trường hợp ấy, họ hầu như không hối hận về những tổn hại mình gây ra. Xét cho cùng, khả năng nhận biết trạng thái nội tâm của người khác có thể vừa là công cụ của lòng từ bi, vừa là phương tiện để kiểm soát họ.
Rõ ràng, sự phát triển tâm linh có thể diễn ra mà không đi kèm với sự phát triển tương ứng về tâm lý và đạo đức.
Vấn đề phổ biến
Vấn đề này không chỉ giới hạn ở những bậc thầy phi thường hay các trường hợp khác thường. Tôi cũng từng biết những hành giả phương Tây đã dành 30, 40, thậm chí 50 năm cho Phật giáo và các pháp môn tâm linh khác. Họ tham dự những khóa nhập thất, tiếp nhận giáo pháp và các lễ quán đảnh, hành thiền hằng ngày và, trong một số trường hợp, tích lũy được kiến thức đáng kể về triết học và thực hành thiền quán.
Thế nhưng, sau nhiều thập niên, một số khuynh hướng ái kỷ, thao túng hoặc thậm chí chống đối xã hội vẫn tồn tại, đôi khi còn trở nên trầm trọng hơn.
Có một biểu hiện khác của cùng vấn đề, bình thường và dễ gặp hơn nhiều. Bất cứ ai dành đủ thời gian trong các cộng đồng tâm linh đều từng gặp những người tu tập lâu năm mà bao năm thiền định dường như chẳng làm dịu đi sự thù địch, kiêu ngạo, hung hăng, thù dai hay nhu cầu luôn chứng tỏ mình đúng.
Đây không nhất thiết là biểu hiện của bệnh lý tâm thần, nhưng rõ ràng cho thấy việc thực hành tâm linh đã không chuyển hóa được nhân cách.
Ngày nay, chúng ta thậm chí không cần bước vào một tu viện hay trung tâm thiền để quan sát hiện tượng ấy. Chỉ cần lướt mạng xã hội và các nhóm thảo luận liên quan đến bất kỳ truyền thống tâm linh lớn nào, bạn sẽ bắt gặp những người thuộc một truyền thống được xây dựng trên lòng từ bi, sự khoan dung, tinh thần bất hại và mối quan tâm vị tha, nhưng lại thể hiện thái độ khinh miệt dữ dội đối với những ai bất đồng quan điểm.
Quan điểm chính trị, giới tính, sắc tộc, tự do ngôn luận và những tranh cãi ý thức hệ đương thời dường như dễ dàng khơi dậy sự coi thường, định kiến, thù địch hoặc thậm chí lòng căm ghét công khai.
Văn hóa đối thoại văn minh đã suy giảm trong xã hội đương đại, trong khi chính mạng xã hội lại tưởng thưởng cho sự phẫn nộ, phân cực và thái độ quả quyết tuyệt đối. Nhưng điều đó cũng cho thấy nhiều năm thực hành tâm linh không nhất thiết làm tan biến những khuôn mẫu tâm lý tạo ra sân giận, ái kỷ, tâm lý bè phái, oán hận và hung hăng.
Thực tế, chúng ta cũng biết rằng, thông qua hiện tượng spiritual bypassing - dùng tâm linh để né tránh những vấn đề tâm lý chưa được giải quyết - việc tu tập có thể chỉ đơn giản khoác cho những khiếm khuyết ấy một bộ áo mới.
Sự kiêu ngạo trở thành niềm xác tín tâm linh. Tính ái kỷ được cảm nhận như một thành tựu đặc biệt. Sự lệ thuộc được nhìn nhận như lòng tận tụy. Thái độ thù địch trở thành hành động bảo vệ giáo pháp một cách chính đáng.
Những khuynh hướng tâm lý tồi tệ nhất của một cá nhân có thể khoác lên mình ngôn ngữ, triết lý và uy quyền của một truyền thống tâm linh, trong khi thực chất chúng chưa hề được chuyển hóa ở chiều sâu có ý nghĩa.
Hai đường thẳng song song
Trong nhiều năm, tôi thường đưa ra nhận định: “Tâm linh và tâm lý học là hai đường thẳng song song, không hội tụ”.
Tuy nhiên, sự phát triển tâm linh lành mạnh đòi hỏi một quá trình vận động theo cả hai hướng. Chúng không nhất thiết phải tiến triển hoàn toàn đồng bộ. Một người có thể đạt đến trình độ rất cao ở phương diện này nhưng vẫn ở mức đáng thất vọng trong phương diện kia. Dẫu vậy, chúng cần tương tác và hỗ trợ lẫn nhau.
Việc rèn luyện đạo đức có thể tác động sâu sắc đến cả hai, nhưng sự tiến bộ trên một phương diện không bảo đảm sự tiến bộ ở phương diện còn lại.
Điều gì sẽ xảy ra nếu một người có cấu trúc thần kinh và tâm lý vốn rất hạn chế về khả năng đồng cảm, cảm giác tội lỗi hoặc sự hối hận lại dấn thân vào quá trình thiền quán chuyên sâu? Và điều gì sẽ xảy ra nếu người ấy thực sự phát triển được những “cơ bắp” tâm linh đó?
Các nguyên lý và phương pháp thực hành tâm linh có thể tạo ra sự phát triển đích thực trong phạm vi riêng của chúng, nhưng không nhất thiết sửa chữa được một cấu trúc tâm lý rối rắm.
Trong khi đó, việc rèn luyện đạo đức, các mối quan hệ, những trải nghiệm sống giúp điều chỉnh nhận thức, công việc trị liệu tâm lý và việc noi theo những tấm gương đạo đức lại thuộc về một dòng phát triển khác.
Khi bệnh lý tâm thần có thành phần sinh học hoặc liên quan đến sự phát triển thần kinh, thành tựu tâm linh càng ít có khả năng xóa bỏ, thậm chí tác động đến những yếu tố ấy.
Một pháp môn yoga có thể phát triển năng lực tập trung đến mức phi thường. Các phương pháp thực hành hơi thở có thể làm thay đổi trạng thái sinh lý và năng lượng. Quán tưởng có thể rèn luyện khả năng chú ý và hình dung mà phần lớn con người hầu như chưa từng khám phá.
Nội đan thuật Đạo giáo có thể đòi hỏi nhiều năm rèn luyện có hệ thống về cảm giác nội tại và năng lượng. Các phương pháp thiền quán Phật giáo có thể tạo ra những thay đổi sâu sắc trong trải nghiệm về bản ngã, tâm thức và các hiện tượng.
Tuy nhiên, không một thành tựu nào trong số đó tự thân giải quyết được tính ái kỷ, những rối loạn về gắn bó tình cảm, khuynh hướng thao túng, sự thiếu vắng hối hận, nhu cầu thống trị hay tình trạng thiếu đồng cảm về cảm xúc.
Điều thú vị là trong các bộ phim võ thuật, thần thoại, kỳ ảo và khoa học viễn tưởng, chúng ta thường bắt gặp mô-típ một đệ tử xuất sắc nhất “trở nên xấu xa”, biến thành một Darth Vader và cuối cùng phải bị đánh bại bởi người đối trọng có phẩm chất đạo đức.
Điều này phản ánh một sự thật vừa cổ xưa vừa phổ biến.
Người có đặc điểm tính ái kỷ là ai?
Có những bằng chứng đáng kể cho thấy ở người có đặc điểm thái nhân cách, hoạt động của hạch hạnh nhân và các mạch thần kinh thuộc vùng vỏ não trước trán bụng giữa có những bất thường mang tính nền tảng. Điều này làm thay đổi phản ứng trước nỗi đau khổ, cơ chế xử lý thưởng - phạt và quá trình đưa ra quyết định đạo đức.
Hiểu được cảm xúc của người khác không đồng nghĩa với việc cùng cảm nhận những cảm xúc ấy.
Vì vậy, một người có đặc điểm thái nhân cách (*) có thể sở hữu khả năng đồng cảm nhận thức khá tốt - hiểu người khác đang nghĩ gì hoặc cảm thấy thế nào - nhưng lại thiếu hụt khả năng đồng cảm cảm xúc.
Một khảo sát trực tuyến dựa trên tự báo cáo của Kevin Dutton, với 5.400 người tham gia, cho thấy các giáo sĩ đứng thứ bảy trong số 10 nghề nghiệp có điểm số đặc điểm thái nhân cách cao nhất.
Thực tế, người có đặc điểm thái nhân cách không nhất thiết phải bạo lực, phạm tội, mất trí, loạn thần, có biểu hiện rối loạn rõ rệt hay thậm chí gặp khó khăn trong việc hòa nhập xã hội. Nhiều người vẫn hoạt động thành công trong đời sống bình thường.
Thái nhân cách nên được hiểu là một tập hợp các đặc điểm liên quan đến quan hệ giữa người với người, cảm xúc và hành vi.
Danh sách dài những thuật ngữ tâm lý học này bao gồm vẻ quyến rũ bề ngoài, cảm giác tự cao, xu hướng thao túng, dối trá, cảm xúc hời hợt, suy giảm khả năng hối hận và đồng cảm, tính bốc đồng và hành vi lợi dụng người khác.
Vì vậy, người có đặc điểm thái nhân cách có thể nhận biết chính xác nỗi sợ, sự khao khát, cảm giác bất an, lòng ngưỡng mộ và sự lệ thuộc của người khác.
Nhưng hiểu được thế giới cảm xúc của người khác mà không có sự đồng cảm về cảm xúc rất dễ biến thành công cụ kiểm soát.
Cần lưu ý rằng điều này khác với cách hiểu thông thường về khuynh hướng chống đối xã hội, vốn dường như có liên hệ với môi trường sống và quá trình phát triển thời thơ ấu.
Thái nhân cách được xem là có nguyên nhân sinh học mạnh mẽ, liên quan đến các hệ thống xử lý cảm xúc của con người. Đơn giản là chưa có dữ liệu khoa học hay quan sát thực nghiệm nào cho thấy tình trạng này có thể được thay đổi thông qua thực hành tâm linh.
Phạm vi tác dụng của thiền định
Có những bằng chứng khoa học đáng tin cậy về hiệu quả của các phương pháp dựa trên chánh niệm đối với một số vấn đề, bao gồm trầm cảm, lo âu, đau mạn tính và lạm dụng chất gây nghiện.
Tuy nhiên, từ những bằng chứng ấy mà đi đến kết luận phổ biến rằng “thiền định chữa lành các bệnh lý tâm thần” là một bước suy diễn không có cơ sở.
Bằng chứng hiện có đơn giản là chưa đủ để chứng minh thiền định có hiệu quả đối với rối loạn lưỡng cực, rối loạn nhân cách ái kỷ, thái nhân cách và những tình trạng tương tự.
Ngay cả các nghiên cứu về rối loạn nhân cách cũng cho thấy một bức tranh không đồng nhất. Phần lớn bằng chứng tập trung vào rối loạn nhân cách ranh giới, trong khi các tình trạng liên quan đến khuynh hướng chống đối xã hội được nghiên cứu ít hơn nhiều.
Một phân tích tổng hợp năm 2025 chỉ tìm thấy mối liên hệ yếu giữa tính ái kỷ và chánh niệm.
Hơn nữa, chúng ta biết rằng bản thân thiền định không phải lúc nào cũng đem lại lợi ích. Một nghiên cứu tổng quan có hệ thống đã ghi nhận những “biến cố bất lợi liên quan đến thiền định”, trong khi cuốn The Dark Side of Dharma (Mặt tối của giáo pháp) của Anna Lutkajtis đặc biệt khảo sát lĩnh vực lâu nay ít được chú ý này.
Thiền định là một phương pháp rèn luyện tâm trí, không phải liệu pháp điều trị tâm thần có thể áp dụng cho mọi trường hợp.
Thành tựu tâm linh nhưng thiếu lương tri?
Chúng ta thường mặc nhiên cho rằng nếu một người đã hành thiền suốt 40 năm, có thể tiếp cận những trạng thái ý thức cao hơn hoặc đạt được các năng lực tri giác, năng lượng khác thường, thì người ấy hẳn phải tử tế, giàu lòng đồng cảm và có đạo đức hơn.
Nếu người ấy còn được công nhận là một bậc thầy tâm linh trong truyền thống của mình, hoặc trong mắt đệ tử và những người tìm đạo, kỳ vọng ấy càng tăng lên đáng kể.
Chẳng phải thành tựu tâm linh và sự phát triển đạo đức luôn tiến triển cùng nhau hay sao?
Thế nhưng, một người có tính ái kỷ không nhất thiết thôi ái kỷ khi bước vào một truyền thống tâm linh như Phật giáo, Shaivism (Ấn Độ giáo phái Shiva), Đạo giáo hay những truyền thống khác.
Thay vào đó, tính ái kỷ có thể học được hệ thống thuật ngữ của truyền thống ấy.
Một người thích kiểm soát có thể học cách gọi sự kiểm soát là “phương tiện thiện xảo”. Người khao khát địa vị có thể tìm kiếm các lễ quán đảnh, danh hiệu, sự gần gũi với thầy, một vị trí trong dòng truyền thừa hoặc những tuyên bố về thành tựu tu chứng.
Người không chấp nhận bất đồng có thể diễn giải sự phản đối của người khác thành vô minh, bản ngã, nhận thức bất tịnh, vi phạm samaya (mật nguyện), thiếu chứng ngộ hoặc chưa đủ lòng sùng kính.
Thực hành tâm linh có thể chuyển hóa bệnh lý tâm lý. Nhưng nó cũng có thể không tác động gì đến bệnh lý ấy. Hoặc chính bệnh lý tâm lý có thể chiếm dụng việc thực hành tâm linh.
Một người có đặc điểm thái nhân cách, thông minh và sở hữu khả năng đồng cảm nhận thức được rèn luyện sắc bén, về mặt khả năng, có thể học toàn bộ ngôn ngữ của lòng từ bi mà không thực sự trải nghiệm cảm xúc từ bi.
Người ấy có thể học được lòng từ bi trông như thế nào, đệ tử mong đợi một vị thầy giác ngộ nói những gì, sự tổn thương và yếu đuối của con người biểu hiện ra sao, cũng như chính xác những lời nào có thể khơi dậy lòng tin và sự quy phục.
Nói cách khác, một người có thể ngày càng tinh thông về tâm linh mà không trở nên lành mạnh hơn về tâm lý. Thậm chí, chính bệnh lý tâm lý cũng có thể trở nên tinh vi hơn nhờ quá trình rèn luyện tâm linh!
Lợi thế của người có đặc điểm thái nhân cách
Nghiên cứu cho thấy một điều khá rõ ràng: những đặc điểm thái nhân cách có thể tạo thuận lợi cho sự thành công của các giám đốc điều hành, chính trị gia, luật sư, nhân vật truyền thông và những người tìm kiếm vị trí quyền lực, kiểm soát.
Sự không sợ hãi, khả năng tách rời cảm xúc, chịu đựng căng thẳng, tập trung vào một mục tiêu, sức lôi cuốn, tinh thần chấp nhận rủi ro, quyết tâm không ngừng nghỉ và nhu cầu được xã hội công nhận thấp cũng có thể trở thành những lợi thế trong môi trường tu tập thiền quán.
Hãy hình dung một cá nhân có tham vọng rất lớn, lòng can đảm, trí thông minh, sức lôi cuốn mạnh mẽ nhưng lại rất ít đồng cảm về cảm xúc.
Nhiều thập niên rèn luyện gần như ám ảnh trong các phương pháp tập trung, quán tưởng, điều hòa hơi thở, thực hành năng lượng vi tế hoặc những trạng thái ý thức biến đổi có thể giúp người ấy đạt được những tiến bộ phi thường.
Nhưng liệu những thành tựu đó có thể sửa chữa một lương tri vốn thiếu vắng hay không?
Bản thân các truyền thống phương Đông cũng phân biệt những năng lực khác thường với sự giải thoát thực sự.
Các siddhi, hay khả năng điều khiển sự chú ý, hơi thở, hình ảnh trong tâm trí hoặc các quá trình sinh lý, tự chúng không đồng nghĩa với lòng từ bi hay trí tuệ.
Đạt được thành tựu không có nghĩa là đã đạt đến sự phát triển toàn diện. Một người có thể sở hữu những năng lực đặc biệt mà không chuyển hóa được cấu trúc tâm lý đang sử dụng chính những năng lực ấy.
Người thầy lạm dụng
Ở đây, chúng ta không bàn về những người thầy giả mạo, khoác lên mình hình ảnh của một bậc giác ngộ.
Chúng ta cũng không bàn về vấn đề thiền định gây ra bệnh lý tâm thần, hay về những vị thầy tâm linh có hành vi lạm dụng.
Những chủ đề ấy đã được quan tâm và thảo luận khá nhiều. Chúng xác nhận rằng năng lực thiền định, các rối loạn tâm thần và sự phát triển đạo đức có thể tồn tại tương đối độc lập với nhau.
Câu hỏi của chúng ta là: Liệu một vị thầy có thể sở hữu những thành tựu đích thực, những năng lực phi thường và trải nghiệm tâm linh chân thật, nhưng vẫn là một người nguy hiểm về mặt tâm lý hay không?
Ở đây tồn tại một môi trường gần như hoàn hảo cho nguy cơ ấy.
Vị đạo sư nắm giữ uy quyền. Những người đi theo bộc lộ các nỗi sợ hãi và điểm yếu sâu kín nhất của mình. Sự phục tùng có thể được diễn giải lại thành buông bỏ bản ngã. Những lời phê bình có thể bị xem là biểu hiện của chấp ngã. Sự hoài nghi có thể trở thành dấu hiệu thất bại trên con đường tâm linh.
Việc giữ bí mật có thể được gọi là samaya, còn sức lôi cuốn cá nhân có thể bị nhầm lẫn với sự chứng ngộ.
Đối với một người thầy có đạo đức, những cấu trúc ấy đi kèm trách nhiệm vô cùng lớn lao.
Nhưng đối với một người có khuynh hướng thao túng, chúng lại tạo ra những cơ hội đặc biệt.
Phát hiện của Dutton, rằng các giáo sĩ nằm trong nhóm nghề nghiệp có mức điểm tự báo cáo về đặc điểm thái nhân cách cao, là điều đáng chú ý trong bối cảnh này.
Vấn đề vẫn còn đó
Phật giáo có chữa khỏi những người có đặc điểm thái nhân cách hay không?
Năng lực tâm linh và phẩm chất đạo đức không phải cùng một loại thành tựu.
Chừng nào các truyền thống của chúng ta chưa học được cách phân biệt hai điều ấy, ánh sáng rực rỡ từ sự chứng ngộ của một vị thầy vẫn có thể khiến chúng ta mù quáng trước một điều bình thường hơn rất nhiều, nhưng cũng quan trọng hơn rất nhiều: sự hiện diện của lương tri.
Tại sao nhiều truyền thống thiền quán tinh vi lại nhấn mạnh việc chuẩn bị nền tảng đạo đức trước khi bước vào những pháp môn cao cấp?
Patanjali đặt yama và niyama - những nguyên tắc kiềm chế và tuân thủ đạo đức - trước các chi phần cao hơn của yoga.
Phật giáo truyền thống kết hợp giới (sīla), định (samādhi) và tuệ (prajñā), thay vì xem riêng thiền định là toàn bộ con đường tu tập.
Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tây Tạng liên tục nhấn mạnh sự cần thiết của Bồ-đề tâm (bodhicitta), tức động cơ vị tha, cùng việc hồi hướng công đức tu tập đến tất cả chúng sinh.
Các truyền thống Đạo giáo cũng có những quy tắc ứng xử và chuẩn mực đạo đức song hành với việc tu luyện năng lượng sinh học.
Trong khi đó, Sufism đặc biệt coi trọng adab - lễ nghi, phẩm hạnh và cách ứng xử đúng mực - cũng như quá trình thanh lọc nafs, tức bản ngã hay những khuynh hướng vị kỷ của con người.
Dường như chính các truyền thống ấy đã nhận ra rằng quyền năng và lòng tốt không phải là một.
Sự chứng ngộ tâm linh, sức khỏe tâm lý và nhân cách đạo đức có thể củng cố lẫn nhau. Một con đường tu tập toàn diện có lẽ cần nuôi dưỡng cả ba phương diện.
Nhưng thành tựu ở một phương diện không phải bằng chứng cho thấy người ấy đã thành tựu ở những phương diện còn lại.
______________
(*) Thái nhân cách (tiếng Anh: psychopathy) là thuật ngữ tâm lý học dùng để chỉ một tập hợp đặc điểm nhân cách, nổi bật là thiếu sự đồng cảm về cảm xúc, ít cảm giác tội lỗi hoặc hối hận, có xu hướng thao túng và lợi dụng người khác.
Người có nhiều đặc điểm thái nhân cách không nhất thiết là người hung dữ, phạm tội hay có biểu hiện bất thường. Họ vẫn có thể thông minh, giao tiếp khéo léo, có sức lôi cuốn và thành công trong xã hội.
Nguồn: phatgiao.org.vn
Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa

Nhớ mùa hồng chín

Đức Phật dạy cách chăm sóc người bệnh: Năm điều cần thực hành khi chăm sóc người bệnh

Cúng dường thầy bằng sự tu tập

Tuệ giác không đòi hỏi chúng ta phải phủ nhận quá khứ, xóa bỏ ký ức

Phật giáo và nhịp sống chậm rãi, an yên ở Lào

