Hãy là người Phật tử chơn chánh, đừng tu theo phong trào
Đạo Phật của chúng ta là đạo của sự tỉnh thức, của con đường quay về nội tâm. Thế nhưng, đôi khi chúng ta lại vô tình biến việc tu học thành một hình thức hướng ngoại, chạy theo cái danh, cái tướng bên ngoài mà quên mất cái cốt tủy bên trong.
Đạo Phật của chúng ta là đạo của sự tỉnh thức, của con đường quay về nội tâm. Thế nhưng, đôi khi chúng ta lại vô tình biến việc tu học thành một hình thức hướng ngoại, chạy theo cái danh, cái tướng bên ngoài mà quên mất cái cốt tủy bên trong.
Chúng ta hãy là người Phật tử chơn chánh. Hai chữ "chơn chánh" nghe thì giản dị, nhưng làm được cả là một đời công phu. Người Phật tử chơn chánh là người đến với đạo bằng chánh tín, chứ không bằng mê tín. Chúng ta đi chùa, lạy Phật, không phải để cầu xin một đấng thần linh ban phước giáng hoạ. Đức Phật là bậc Đạo sư, Ngài chỉ ra con đường, còn đi hay không là ở chính chân của mình. Người chơn chánh là người biết tin Nhân Quả - sợ Tội Phúc, muốn quả ngọt thì tự tay mình phải gieo nhân lành. Chúng ta đem giáo lý ứng dụng vào cuộc sống, giữ gìn năm giới, thúc liễm thân tâm, sửa đổi những thói hư tật xấu của chính mình. Đó mới thật sự là người con Phật chơn chánh.
Nhưng nhìn lại hiện nay, có một hiện tượng đáng ngại là chúng ta rất dễ rơi vào cái bẫy của thời đại, đó là tu theo phong trào.

Chữ Phong nghĩa là gì? Là ngọn gió. Gió thì không có hình, không có tướng cố định, chợt đến rồi chợt đi, lúc thổi như bão táp, lúc lại lặng tờ không một chút vết tích. Gió thổi đến đâu thì ngọn cỏ rạp theo đến đó, thế gian gọi là hiệu ứng đám đông, là cái xu hướng bề nổi.
Còn chữ Trào là gì? Chính là ngọn thủy triều. Thủy triều thì có lúc dâng, có lúc rút. Khi nó dâng lên thì cuồn cuộn dữ dội, sóng xô bạc đầu, nhìn thấy oai hùng lắm, mạnh mẽ lắm; nhưng khi đến giờ nó rút đi rồi, thì để lại một bãi cát trơ trọi, khô cằn.
Thấy người ta đi chùa đông, mình cũng chen chân đi cho có bạn có bè. Thấy người ta đăng hình đi khóa tu, mình cũng chụp vài tấm ảnh đăng lên để thể hiện mình. Thấy người ta đi làm từ thiện ồn ào, mình cũng góp mặt để tìm chút tiếng vang. Cái đó gọi là tu theo phong trào, tu bề nổi. Ở đây, không phải cấm đoán hay phê phán các vị lưu giữ những kỷ niệm mà cốt ý muốn nói tu tập phải thật tu, thật học. Từ hình thức có đầy nội dung, phải dùng tướng để hiển tánh, bằng như rỗng tuếch thì khi phong trào đi qua, hoặc khi đối diện với chút nghịch cảnh, chút thử thách của cuộc đời, thì tâm bồ đề dễ dàng thối thất. Việc tu hành là việc của chính mình, là sự thầm lặng chuyển hóa phiền não bên trong.
Một ngày tu tập có chất lượng là một ngày, ta thấy mình bớt giận, bớt tham, biết thương yêu gia đình, làng xóm hơn; chứ không phải là tích lũy cho nhiều chứng nhận khóa tu, hay khoe mình đã đi được bao nhiêu ngôi chùa, tụng được bao nhiêu bộ kinh. Đừng để việc tu hành như một hình thức chấm công ở văn phòng làm việc. Để rồi đụng đâu sân đó, làm đâu phiền não đó thì thật đáng tiếc.
Người tu phải khác người đời, "Khác" ở đây không phải là chúng ta ăn mặc dị kỳ, nói năng lập dị, hay tự cô lập mình ra khỏi xã hội để tỏ vẻ thanh cao. Cái khác của người tu nằm ở năng lượng sống và thái độ trước cuộc đời. Người đời thì suốt một đời bôn ba, lao tâm khổ trí để chạy theo "ngũ dục" và họ xem đó là đích đến của hạnh phúc. Còn người tu chúng ta, nhờ học Phật, ta hiểu được tính vô thường của vạn vật, nên chúng ta sống ít muốn, biết đủ, tìm cầu niềm vui từ sự định tĩnh, an lạc trong tâm hồn.
Người đời khi gặp chuyện bất như ý, gặp người ta mắng nhiếc, vu oan thì lập tức nổi trận lôi đình, tìm cách ăn miếng trả miếng. Còn người tu chúng ta, khi đối diện với nghịch cảnh, biết dừng lại một nhịp, nhìn bằng con mắt duyên sinh và nhân quả, lấy lòng từ bi để bao dung, lấy sự điềm tĩnh để chuyển hóa. Đi đến đâu mang lại sự mát mẻ, nhẹ nhàng đến đó chính điều này mới là cái "khác" của người tu.
Và để làm được điều đó, có một hạnh nguyện vô cùng sâu sắc mà mỗi người Phật tử phải nằm lòng: Phải biết nhường nhịn, không hơn thua.
Bản chất của mọi sự tranh chấp, đau khổ trên cuộc đời này đều xuất phát từ cái "Ngã", cái tôi quá lớn. Lúc nào chúng ta cũng muốn mình là nhất, mình là đúng, lời nói của mình là phải có trọng lượng hơn người khác. Ai đụng đến cái tôi của mình là mình phản ứng lên để bảo vệ. Nhưng nhường nhịn không phải là nhu nhược, không phải là hèn nhát. Nhường nhịn là biểu hiện của một người có nội lực thâm hậu, có trí tuệ và lòng từ bi. Khi một người đang nổi cơn thịnh nộ, họ giống như một ngọn lửa đang bốc cháy, nếu ta cũng lao vào hơn thua thì chỉ làm cho đám cháy lây lan, thiêu rụi cả hai. Ta nhường bước, ta im lặng, không phải vì ta thua họ, mà vì ta thương họ và thương chính mình, không muốn gieo thêm oán nghiệp. Đức Phật dạy: "Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình". Thắng được cơn giận của chính mình, thắng được cái lòng ham muốn hơn thua của chính mình, đó mới là bậc chiến sĩ oanh liệt nhất. Khi các vị buông được cái tâm hơn thua xuống, các vị sẽ thấy không gian xung quanh mình tự nhiên thênh thang, rộng lớn, đi đâu cũng thấy nhẹ nhàng, tự tại.
Để làm được như thế, chúng ta hôm nay phát nguyện quy y Tam bảo. Quy y Phật là nguyện trở về nương tựa với Đức Phật, là bậc giác ngộ tỉnh thức vẹn toàn. Quy y Pháp là nguyện trở về nương tựa với đường lối, phương pháp mà Đức Phật đã thực chứng và ngài đã chỉ dạy cho chúng ta nương theo đó tu tập để tìm lại cái thể tính thanh tịnh. Quy y Tăng là trở về nương tựa với đoàn thể tăng già tu học đúng chánh pháp, để chúng ta được chăm sóc, được dắt dìu; và từ đó chúng ta thiết lập được sự hòa hợp giữa thân và tâm, thiết lập sự hài hòa giữa ta và mọi người chung quanh ta.
Thế cho nên, một khi chúng ta biết quay trở về sống với đạo lý tỉnh thức, sống với cái bản thể thanh tịnh, sống với đức tính hòa hợp thì Phật, Pháp và Tăng không còn ở ngoài cuộc đời của ta nữa, mà chúng ta đã có khả năng khai phóng được cái tính Phật ở trong mỗi người chúng ta. Cái tính Phật ở trong mỗi người chúng ta đó, đó là gì? Là Tự tính Tam bảo, và ai ai cũng có, cho nên nó còn gọi là Đồng thể Tam Bảo.

Ngôi Tam bảo trong tự tính: Phật là giác ngộ, là tỉnh thức; Pháp là thanh tịnh; Tăng là hòa hợp.
Vì chưa tìm thấy, chưa khai phóng được cái đức tính giác ngộ, thanh tịnh và hòa hợp đó, cho nên chúng ta mới nương vào ngôi Tam bảo ở thế gian này. Đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni; những lời dạy của Đức Phật qua chân lý Tứ đế, Bát chánh đạo; và nương vào đoàn thể tăng già. Những người tu học đầu tiên là chúng ta nhìn qua hình tướng tranh vẽ, qua kinh sách ghi chép và qua những cái sinh hoạt của tăng già mà chúng ta nương theo để học hỏi. Đó là quy y Thế gian trụ trì Tam bảo. Ngôi Tam bảo ở thế gian này làm điểm tựa cho chúng ta nương theo tu học.
Và qua đó, chúng ta biết được có Đức Phật Thích Ca là vị giáo chủ, là con người có mặt trên trái đất này tu tập giác ngộ thành Phật; và có những chân lý Tứ đế, Bát chánh đạo v.v... mà ngài đã thực chứng và chỉ dạy lại cho chúng ta; có những bậc thánh tăng như các vị tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, A Nan v.v... là những vị thánh tăng, là những bậc đại trí hoằng pháp. Chúng ta biết được ngôi Tam bảo thứ hai là Xuất thế gian Tam Bảo.
Và nương theo đó để tu tập, dần dần chúng ta khai phóng được cái tính siêu việt ở trong mỗi người chúng ta. Đó là đức tính giác ngộ giải thoát, đức tính thanh tịnh, đức tính hòa hợp. Giây phút nào mà chúng ta sống với những chân lý đó thì lời nói, hành động và suy nghĩ có tỉnh thức là lúc đó ta đang sống với Đức Phật của chính ta. Giây phút nào lời nói, hành động và suy nghĩ của chúng ta đã hoàn toàn trong sạch, không để lại hậu quả vẩn đục, làm đổ vỡ sự bình yên, an vui, giải thoát, đó là giây phút đó ta đang sống với chân lý cao quý đó.
Phật là thầy chỉ đạo, bậc tỉnh thức vẹn toàn, các tướng tốt đoan trang, trí và bi viên mãn.
Pháp là con đường sáng, dẫn người thoát cõi mê, đưa chúng sanh trở về sống cuộc đời tỉnh thức.
Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui, tu tập hạnh giải thoát, làm an lạc cuộc đời.
Đã có ba viên ngọc quý, đã có ngôi Tam bảo ở trong thân và tâm của ta rồi, ta luôn luôn ý thức và trân trọng gìn giữ trong lời nói, hành động và suy nghĩ. Để làm gì? Để có khả năng làm cho ba viên ngọc sáng đó, ba đức tính cao quý đó luôn luôn hiện diện. Và chính cái năng lượng tích cực cái năng lượng bình yên, năng lượng thanh tịnh, năng lượng giải thoát, năng lượng từ bi hỷ xả của Phật, Pháp, Tăng sẽ giúp cho chúng ta đẩy lùi những chướng duyên nghịch cảnh, đẩy lùi những khổ đau bất an. Nhờ đó mà ta luôn luôn thiết lập được cái môi trường tịnh độ bình yên ngay trong đời sống hiện tại.
Dù biết như vậy, nhưng còn phàm phu cho nên chúng ta nhiều khi bị nghiệp chướng nhiều đời nó cản ngăn, bị những cái nghịch cảnh chướng duyên của quá khứ nó chiêu cảm, cho nên ít nhiều gì chúng ta cũng có những giây phút mềm yếu, có những sự thử thách. Cho nên chư Phật vì lòng từ thương xót, lại dạy cho chúng ta thiết lập năm cái phương tiện để phòng hộ, đó là Năm giới.
Năm giới gồm: Một là không sát sanh, hai là không trộm cắp, ba là không tà dâm, bốn là không nói dối, năm là không uống rượu. Chúng ta có thể hiểu rộng ra:
Giới thứ nhất, Không sát sanh: Nghĩa là luôn luôn phải biết tôn trọng và bảo vệ mạng sống của mọi người và mọi loài, như chúng ta luôn luôn bảo vệ mạng sống của tự thân. Giữ giới này để nuôi dưỡng lòng từ bi, để tránh đi cái nghiệp quả xấu thường đau chết yểu vì những cái hành động giết hại gây ra.
Giới thứ hai, Không trộm cắp: Nghĩa là chúng ta biết mở trải cái tâm của mình ra, biết bố thí, biết chia sẻ và hiến tặng. Nhờ vậy mà chúng ta chuyển hóa được cái tâm bỏn xẻn, tham lam, ích kỷ. Nhờ hạnh bố thí, biết chia sẻ và hiến tặng cho nên chúng ta đời đời được cái phúc báo, sanh nơi nào cũng được cuộc sống đầy đủ sung túc.
Giới thứ ba, Không được tà dâm: Nghĩa là chúng ta ở tại gia lập gia đình, trên cái danh nghĩa hôn phối, chúng ta có cái đời sống tôn trọng tình thương đích thực, và chúng ta không làm những việc tà bậy lang chạ. Chúng ta hoàn toàn chịu lấy trách nhiệm những gì thời điểm đó gây ra. Nhờ giữ giới này mà phạm hạnh nết sạch, chúng ta được thân tướng đẹp đẽ trang nghiêm, được cái hạnh phúc bình yên cho gia đình, và để lại gương sáng cho con cháu về sau.
Giới thứ tư, Không được nói dối: Nghĩa là phải tôn trọng sự thật. Vì vậy chúng ta luôn luôn học nói lời có chất liệu ái ngữ và biết lắng nghe. Lời nói mà có chất liệu của tình thương, của hiểu biết thì lời nói đó mới có thể xây dựng, hàn gắn và đem lại lợi ích. Nhờ nói lời chân thật cho nên đời đời kiếp kiếp được tướng lưỡi rộng dài, được hơi miệng thơm sạch như hoa sen mà trong Kinh Pháp Hoa đã diễn tả. Và lời nói của chúng ta có đạo lực, có năng lượng truyền cảm, cho nên có thể cảm hóa và giúp cho mọi người phát tâm cùng tu tập để hướng thiện.
Giới thứ năm, Không uống rượu: Nghĩa là chúng ta ăn uống và tiêu thụ phải có chánh niệm. Vì ý thức được rằng những cái khổ đau do cái việc tiếp xúc những cái chất say sưa nghiện ngập và đưa đến tình trạng mất khả năng tự chủ, rồi tội lỗi cũng từ đó mà phát sinh. Cho nên chúng ta nguyện ăn uống tức là những cái thực phẩm hay thức uống đưa vào từ miệng chúng ta phải có chánh niệm, ý thức được những thực phẩm này, thức ăn này, thức uống này nó có để lại hậu quả làm chúng ta phải bệnh tật khổ đau về những cái hành động tội lỗi hay không. Và có những cái thực phẩm nó đưa vào bằng mắt, bằng tai tức là trong những sách báo, trong phim ảnh hay là những cái câu chuyện nhiều khi để lại độc tố làm cho chúng ta mất tự chủ, đưa đến thèm khát ham muốn và tạo ra những cái việc tội lỗi.
Nhờ khép mình trong năm phạm trù của giới này mà chúng ta tránh xa được những tội lỗi. Nhờ vậy mà chúng ta luôn luôn giữ được cái đức tính giác ngộ tỉnh thức luôn luôn hiện diện; giữ được lời nói, hành động và ý nghĩ trong sạch thanh tịnh; và giữ được cái đức tính hài hòa giữa mình và người, giữa thân và tâm.
Khi quy y Pháp, năm giới cũng là Pháp, nếu chúng ta sống trong cái phạm trù của giới luật, của đạo đức là chúng ta đang thực sự quy y Pháp. Nhờ hành trì Pháp mà chúng ta có tỉnh thức, có sáng suốt và có được sự hòa hợp, hài hòa giữa mình và mọi người. Cho nên khi quy y Phật thì đồng nghĩa là chúng ta đã có quy y Pháp và quy y Tăng. Khi quy y Pháp thì đồng nghĩa là chúng ta hội đủ cả quy y Phật và quy y Tăng. Cho nên tuy nói là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nhưng giây phút nào chúng ta phát nguyện trọn vẹn quy y Phật thì chúng ta đã có đủ Pháp và Tăng. Khi quy y Pháp, thực tập năm giới, là chúng ta cũng có hội tụ đủ quy y Phật và quy y Tăng. Khi quy y Tăng là đã có đủ Phật và Pháp. Cho nên ba trong một!
Dù vậy, cũng không bắt buộc mọi người phải giữ nếu chúng ta chưa có chuẩn bị. Năm giới này chúng ta tự phát nguyện, có thể phát nguyện trước Tam bảo, phát nguyện trước cái vị tăng, vị thầy của chúng ta để mình nguyện trọn đời giữ năm giới này.
Thế cho nên, quy y và thọ giới phải trên cái hiểu biết. Hiểu biết rằng, ý thức rằng những cái khổ đau xảy ra trong đời sống của chúng ta chính là do chúng ta sống không có ý thức, sống không có tình thương, sống không có sự hiểu biết, sống không có trách nhiệm, cho nên chúng ta để quá lại nhiều quá những cái hậu quả khổ đau. Vì vậy mà chúng ta nguyện hết mình trong cái phạm trù của quy y, của giới để dần dần chúng ta duy trì và phát triển những cái năng lượng bình yên trong ta.
Một khi có năng lượng bình yên tức là năng lượng tích cực ở trong ta mà mạnh mẽ rồi thì cái năng lượng đó nó sẽ phát ra một cái từ trường. Cái từ trường đó nó có năng lực, đẩy lùi tất cả những chướng duyên nghịch cảnh, những tai nạn, những cái bất an ra khỏi đời sống của chúng ta. Vấn đề ở chỗ là chúng ta luôn luôn phải kích hoạt, phải hoạt động cái năng lượng bình yên, cái năng lượng của giới luật, năng lượng của tỉnh thức, năng lượng của từ bi, năng lượng của thanh tịnh, năng lượng của hòa hợp luôn luôn ở cao độ. Để làm gì? Để cái năng lượng đó nó lan tỏa ra và nó tiếp nhận được cái từ trường của chư Phật, Bồ Tát, thánh tăng. Các ngài cũng ở cái năng lượng tích cực cao đó, cho nên chúng ta bắt được, hội nhập được cái năng lượng của chư Phật, Thánh chúng. Và trong giây phút mầu nhiệm đó, chúng ta được chư Phật hộ niệm, đem cái tâm thương tưởng mà chăm sóc giữ gìn cho ta, và nhờ vậy mà chúng ta đẩy lùi được chướng duyên nghịch cảnh.
Vì vậy, tu tập không phải dừng lại ở vấn đề cầu xin, lễ bái, cúng kiến. Nhưng qua những hình thức tụng niệm lễ bái đó, đó là một phương tiện để chúng ta quán niệm và thấy được con người thật của mình. Khi chúng ta thấy được con người thật của mình rồi, thấy được mình là ai, mình đang làm gì, thì tự khắc mình phải biết dừng lại những cái lối sống nào để lại hậu quả khổ đau cho mình, và phát huy những lối sống nào đưa đến bình yên hạnh phúc.
Hôm nay, trong ngày các Phật tử đã phát nguyện quy y, xin giảng rộng thêm năm giới để giúp cho quý Phật tử thấy rõ được cái giá trị của người tu tập không dừng lại ở hình thức, mà chính là ở cái đời sống của người phật tử có bình yên và hạnh phúc.
Nguyện Tam bảo gia hộ cho quý Phật tử có sức khỏe và hàng ngày dành thời gian để tu tập. Nhất là đối với ngôi Tam bảo phải biết tôn thờ, dành thời gian học tập; mỗi ngày phải nuôi dưỡng lòng từ bi, tập ăn chay, tránh đi những cái lối sống đưa đến khổ đau; mỗi ngày phải lạy Phật, tụng kinh để hiểu thêm được những lời dạy cao quý của Đức Phật ứng dụng trong đời sống hàng ngày.
Cầu Phật gia hộ cho quý Phật tử có nhiều an lạc trong chánh pháp.
Nguồn: phatgiao.org.vn
Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa

Những ngộ nhận trong thực hành Mật tông

Sóng nhiệt biển có thể làm tăng lượng mưa ven biển

Chùa Từ Huệ khai mạc Khóa tu mùa hè "Đức Phật trong con" lần 7

‘Trạm dừng sinh tử’ - Bài học từ những người đang cận kề cái chết

Khóa tu mùa hè 2026 “Lắng nghe để hiểu – Nhìn lại để thương” tại chùa Pháp Hoa (P.Bắc Gia Nghĩa)

