Thiền biết ơn và biết ơn nghịch cảnh
Có một thực tập rất đơn giản mà nếu làm bằng cả trái tim, cuộc sống của chúng ta có thể thay đổi: biết ơn và thành tâm biết ơn.
Có một thực tập rất đơn giản mà nếu làm bằng cả trái tim, cuộc sống của chúng ta có thể thay đổi: biết ơn và thành tâm biết ơn.
Chúng ta thường nghĩ đến lòng biết ơn khi nhận được một điều tốt đẹp. Ai giúp mình, mình biết ơn. Ai yêu thương mình, mình biết ơn. Ai mang đến thuận lợi cho mình, mình biết ơn. Nhưng càng thực tập, tôi càng nhận ra rằng lòng biết ơn còn có thể đi xa hơn thế.
Từ biết ơn cha mẹ đến biết ơn cuộc đời
Trước hết, chúng ta biết ơn cha mẹ. Đức Phật đặc biệt đề cao ân đức của cha mẹ. Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya 2.32), Ngài dạy rằng có hai người rất khó đền đáp hết ân, đó là mẹ và cha. Đức Phật nói rằng ngay cả khi một người cõng cha mẹ trên hai vai suốt một trăm năm, hết lòng phụng dưỡng, chăm sóc, cũng chưa dễ gì trả hết ân cha mẹ. Đặc biệt, cũng trong bài kinh này, Đức Phật nói về một phẩm chất rất đẹp của con người: biết ơn và biết đền ơn. Người chân chính là người có lòng biết ơn, biết nhớ những gì người khác đã làm cho mình. Cho nên hãy bắt đầu từ những người gần nhất. Biết ơn cha mẹ đã sinh ra ta. Biết ơn ông bà, tổ tiên. Biết ơn vợ hoặc chồng, con cái, anh chị em. Biết ơn thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp. Biết ơn những người nhân viên đang làm việc cùng mình. Biết ơn người hàng xóm. Biết ơn bác bảo vệ mở cửa mỗi sáng. Biết ơn người lao công quét con đường chúng ta đi. Biết ơn người lái xe. Biết ơn người nông dân trồng rau, trồng lúa. Biết ơn những con người mà có thể cả đời chúng ta chưa từng biết mặt, nhưng sản phẩm từ bàn tay họ đang có mặt trong bữa ăn, căn nhà, bộ quần áo và cuộc sống của chúng ta. Nhìn sâu một chút, ta sẽ thấy: không ai sống một mình được.
Biết ơn cả mặt trời, dòng nước và một hơi thở
Nhưng lòng biết ơn không nên dừng lại ở con người. Sáng nay thức dậy, ta có thở được không? Nếu có, hãy biết ơn.
Một cái cây đứng lặng lẽ ngoài kia đang góp phần tạo nên bầu không khí cho chúng ta sống. Mặt trời vẫn mọc và mang đến ánh sáng, hơi ấm, năng lượng. Nước vẫn chảy để chúng ta uống, tắm giặt và tưới cho cây cối. Một bát cơm đặt trước mặt là cả một thế giới. Trong đó có đất. Có nước. Có ánh nắng mặt trời. Có hạt giống. Có người nông dân. Có người vận chuyển. Có người bán hàng. Có người nấu. Và còn biết bao nhiêu nhân duyên khác nữa. Nếu quan sát thật kỹ một hạt cơm, chúng ta có thể thấy cả đất trời trong đó. Vậy tại sao phải chờ đến khi nhận được một món quà lớn mới nói lời cảm ơn? Chỉ cần còn một hơi thở để thở, chúng ta đã có lý do để biết ơn.
Lòng biết ơn lớn lao đối với Đức Phật
Nhưng đối với người học Phật và thực hành Phật pháp, còn có một lòng biết ơn vô cùng sâu sắc: biết ơn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Hơn 2.500 năm trước, Ngài đã đi tìm câu trả lời cho một vấn đề mà đến hôm nay nhân loại vẫn đang đối diện: Tại sao con người khổ và có con đường nào đưa đến chấm dứt khổ đau hay không?
Chúng ta có thể ăn uống đầy đủ. Chúng ta có thể tập thể dục hằng ngày. Chúng ta có thể có một thân thể khỏe mạnh, một căn nhà đẹp, một công việc tốt, một tài khoản ngân hàng đủ lớn. Nhưng tất cả những điều ấy không bảo đảm rằng chúng ta không còn khổ.
Ta vẫn có thể lo. Vẫn có thể sợ. Vẫn có thể giận. Vẫn có thể ganh tỵ. Vẫn có thể đau đớn khi mất một người mình yêu. Vẫn có thể bất an khi một điều xảy ra không đúng ý mình.
Đức Phật không hứa ban cho chúng ta một thế giới mà trong đó mọi sự đều diễn ra theo ý muốn. Ngài chỉ ra một điều sâu sắc hơn rất nhiều: con đường nhận diện khổ, thấy nguyên nhân của khổ và thực hành để đi đến đoạn tận khổ. Trong Kinh Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 10), Đức Phật trình bày bốn niệm xứ như con đường thực hành nhằm thanh tịnh chúng sinh, vượt qua sầu bi, đoạn trừ khổ ưu và hướng đến Niết-bàn. Đây chính là điều khiến tôi thấy lòng biết ơn Đức Phật không nên chỉ là một nghi lễ.
Biết ơn Đức Phật sâu sắc nhất chính là thực hành những gì Ngài đã chỉ dạy. Khi đau, biết mình đang đau.
Một điểm tôi đặc biệt tâm đắc trong Kinh Niệm Xứ là lời dạy về quán thọ. Khi có cảm thọ dễ chịu, người thực hành nhận biết đó là cảm thọ dễ chịu. Khi có cảm thọ đau khổ, nhận biết đó là cảm thọ đau khổ. Khi có cảm thọ không khổ không lạc, cũng nhận biết rõ như vậy.
Nghe thì đơn giản. Nhưng thực hành được điều này là một cuộc cách mạng. Bởi bình thường khi một điều trái ý xảy ra, chúng ta lập tức phản ứng. Ai nói một câu không vừa lòng thì giận. Công việc không đúng kế hoạch thì bực mình. Người khác không làm theo ý mình thì khó chịu. Mất một thứ mình yêu thích thì đau khổ. Nhưng nếu có chánh niệm, giữa sự việc và phản ứng của chúng ta xuất hiện một khoảng không gian.
Ta có thể nhận biết: “À, đang có một cảm thọ khó chịu.”
Chỉ quan sát. Không cần lập tức kết tội người khác. Không cần lập tức tìm người chịu trách nhiệm. Không nhất thiết phải chạy theo cảm thọ ấy.
Trong MN 10, Đức Phật còn dạy người thực hành quan sát sự sinh khởi và sự biến mất của các cảm thọ. Đây là một thực tập tuyệt vời. Bởi khi thấy một cảm thọ đang sinh và rồi sẽ diệt, ta bắt đầu không còn đồng nhất hoàn toàn mình với cảm thọ đó nữa.

Và rồi hãy biết ơn cả nghịch cảnh
Từ đây, tôi muốn đi đến một loại biết ơn khó hơn: Biết ơn những điều trái ý mình. Biết ơn nghịch cảnh.
Tại sao? Bởi thuận cảnh thường làm chúng ta dễ chịu, nhưng chưa chắc giúp chúng ta nhìn thấy mình. Nghịch cảnh thì khác. Một lời chê có thể cho tôi thấy cái tôi của mình lớn đến đâu. Một lần thất bại cho tôi biết khả năng chịu đựng của mình đến đâu. Một người làm trái ý cho tôi thấy sân đang có mặt trong tâm mình mạnh thế nào. Một sự mất mát cho tôi thấy mình đang bám víu vào điều gì. Một kế hoạch đổ vỡ cho tôi thấy mình đã tưởng rằng cuộc đời phải vận hành theo ý mình ra sao. Nghịch cảnh, vì thế, có thể trở thành một tấm gương.
Nếu biết quan sát, nghịch cảnh mang đến cho ta ít nhất hai món quà. Thứ nhất là một thông điệp, một bài học. Thứ hai là một cơ hội thực hành. Ít nhất, ta học được chữ nhẫn. Sâu hơn nữa, ta có cơ hội quán thọ. Sâu hơn nữa, ta có cơ hội quán tâm.
Trong Kinh Niệm Xứ, Đức Phật dạy khi tâm có tham thì biết tâm có tham; khi tâm không tham thì biết tâm không tham; khi tâm có sân thì biết tâm có sân; khi tâm không sân thì biết tâm không sân. Như vậy, người làm tôi tức giận đôi khi lại vô tình giúp tôi nhìn thấy một thứ mà bình thường tôi không nhìn thấy: cơn giận trong chính mình. Nếu không có nghịch cảnh ấy, có khi tôi vẫn tưởng rằng mình tu tốt lắm.
Không phải cuộc đời phải theo ý mình
Đức Phật còn chỉ ra một sự thật rất quan trọng: những gì thuộc năm uẩn đều vô thường, chịu sự biến đổi và không thể hoàn toàn điều khiển theo ý muốn. Năm thủ uẩn là khổ.
Trong Kinh Vô Ngã Tướng – Anattalakkhaṇa Sutta (Tương Ưng Bộ, SN 22.59), Đức Phật đặt câu hỏi: sắc là thường hay vô thường? Các vị Tỳ-kheo trả lời là vô thường. Ngài tiếp tục chỉ ra rằng cái gì vô thường, chịu biến đổi và đưa đến khổ thì không thích hợp để chấp giữ là “của tôi”, “là tôi”, hay “tự ngã của tôi”. Đọc đoạn kinh này rồi nhìn lại cuộc sống, tôi thấy một điều rất thú vị: Rất nhiều nỗi khổ của chúng ta bắt đầu từ một chữ Phải.
Người kia phải hiểu tôi. Con tôi phải nghe lời tôi. Nhân viên phải làm đúng ý tôi. Công việc phải diễn ra theo kế hoạch. Thời tiết phải đẹp. Sức khỏe phải tốt. Cuộc đời phải công bằng theo định nghĩa của tôi. Nhưng cuộc đời đâu ký hợp đồng với chúng ta rằng mọi việc sẽ xảy ra đúng ý mình. Khi hiểu vô thường sâu hơn, ta bớt đòi hỏi cuộc đời phải theo ý mình. Và khi ấy, nghịch cảnh bắt đầu biến thành bài học.
Nghịch cảnh chính là một người thầy
Tôi ngày càng thấy rằng người thầy của mình không nhất thiết phải ngồi trên pháp tòa. Đôi khi người thầy của mình chính là người đang làm mình khó chịu.
Một sự cố có thể là thầy. Một thất bại có thể là thầy. Một lời phê bình có thể là thầy. Một lần bị hiểu lầm cũng có thể là thầy. Nếu thuận cảnh cho chúng ta niềm vui thì nghịch cảnh cho chúng ta cơ hội nhìn sâu vào chính mình. Vậy nên, lần tới khi gặp một việc trái ý, trước khi phản ứng, hãy thử dừng lại. Quán sát cảm thọ. Quán sát tâm. Và tự hỏi: “Nghịch cảnh này đang dạy mình điều gì?”
Có khi câu trả lời là nhẫn. Có khi là buông. Có khi là bớt tham. Có khi là bớt sân. Có khi là thôi kiểm soát. Có khi chỉ đơn giản là nhận ra: mọi thứ rồi cũng thay đổi. Khi ấy, nghịch cảnh không còn đơn thuần là kẻ thù. Nghịch cảnh trở thành người thầy.
Mỗi ngày, hãy thực tập biết ơn
Tôi đề nghị một thực tập rất đơn giản. Mỗi sáng thức dậy, trước khi cầm điện thoại, hãy dành vài phút biết ơn. Biết ơn mình vẫn còn thở. Biết ơn cha mẹ, tổ tiên. Biết ơn gia đình. Biết ơn những người đang đồng hành với mình. Biết ơn cây xanh, ánh nắng, nước uống và thực phẩm. Biết ơn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tìm ra và chỉ dạy con đường đưa đến giải thoát khỏi khổ đau. Và đặc biệt: Biết ơn cả người làm mình khó chịu.
Biết ơn cả việc không diễn ra như ý. Biết ơn cả nghịch cảnh.
Nhưng xin nhớ rằng biết ơn không có nghĩa là chúng ta gọi mọi điều sai trái là đúng, hay cam chịu trước điều bất thiện. Biết ơn ở đây có nghĩa là: dù một hoàn cảnh đã xảy đến, tôi không để nó trôi qua vô ích. Tôi dùng chính hoàn cảnh ấy để học, để quan sát tâm, để trưởng thành và để tu tập. Đó mới là biết ơn có trí tuệ.
Và cuối ngày, trước khi đi ngủ, ta có thể hỏi mình: Hôm nay tôi đã nhận được những gì từ cuộc đời?
Rồi hỏi thêm một câu khó hơn: Điều trái ý nhất xảy ra với tôi hôm nay đã dạy tôi điều gì?
Nếu trả lời được câu hỏi thứ hai, ta bắt đầu hiểu giá trị của nghịch cảnh. Lòng biết ơn khi ấy không còn là hai tiếng nói trên môi. Nó trở thành một cách sống. Thuận cảnh, biết ơn Nghịch cảnh, cũng biết ơn. Được, biết ơn, Mất, quan sát và cũng học cách biết ơn. Biết ơn cha mẹ đã cho ta hình hài này. Biết ơn cuộc đời đã nuôi dưỡng hình hài này. Biết ơn Đức Phật đã chỉ ra con đường để chúng ta hiểu khổ và đi đến đoạn tận khổ. Và biết ơn từng nghịch cảnh đã cho ta cơ hội thực hành con đường ấy.
Đừng chỉ nói “cảm ơn”. Hãy thành tâm biết ơn. Hãy chú tâm biết ơn. Hãy thiền biết ơn. Đừng chỉ biết ơn khi thuận lợi, hãy tập biết ơn cả những gì trái ý mình. Chú tâm. Thiền biết ơn. Bởi đôi khi, điều làm ta khó chịu nhất hôm nay lại chính là bài học mà ta cần nhất cho sự trưởng thành và tỉnh thức của mình. Tuyệt vời lắm quý vị ạ.
Nguồn: phatgiao.org.vn
Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa

Hòa thượng Thích Giác Tuấn - Trị sự trưởng Giáo đoàn VI hệ phái Khất sĩ viên tịch

Sáng mai, 1-9: Giới tử Đại giới đàn Thanh Kiểm Phật lịch 2570 sẽ tham dự kỳ tuyển Phật trường

Từ cõi Đạo đến cõi Đời (cảm nhận về thơ của Trần Quê Hương - Hòa thượng Thích Giác Toàn)

Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước có độc lập thì đạo Phật mới dễ dàng mở mang”

Khấn nguyện mà chưa làm được hóa giải thế nào?

