Từ “pháo đài” Tà Miệt đến mạch nguồn đại đoàn kết giữa núi rừng Thất Sơn
Giữa những hàng thốt nốt vươn cao dưới chân Núi Dài, chùa Tà Miệt Trên (xã Ô Lâm, tỉnh An Giang) không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi, mà còn là một địa chỉ lịch sử đặc biệt. Nơi đây từng chứng kiến sự gắn bó bền chặt giữa đạo pháp và dân tộc, giữa niềm tin tôn giáo với lý tưởng cách mạng; đồng thời trở thành minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong những năm tháng chiến tranh cũng như công cuộc xây dựng quê hương hôm nay.
Giữa những hàng thốt nốt vươn cao dưới chân Núi Dài, chùa Tà Miệt Trên (xã Ô Lâm, tỉnh An Giang) không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi, mà còn là một địa chỉ lịch sử đặc biệt. Nơi đây từng chứng kiến sự gắn bó bền chặt giữa đạo pháp và dân tộc, giữa niềm tin tôn giáo với lý tưởng cách mạng; đồng thời trở thành minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong những năm tháng chiến tranh cũng như công cuộc xây dựng quê hương hôm nay.

Nắng vùng Thất Sơn xuyên qua những tán thốt nốt, rải từng vệt sáng trên con đường dẫn vào chùa Tà Miệt Trên. Tiếng kinh cầu trước giờ thọ thực vang lên trầm mặc giữa không gian thanh bình. Ít ai hình dung được rằng, dưới mái chùa cổ kính này từng diễn ra những sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng địa phương.
Ông Nguyễn Tiếc Hùng, nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam tỉnh An Giang, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về dân tộc và tôn giáo, chủ biên công trình “Lịch sử MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang 1930 - 2015”, chậm rãi lật lại những trang tư liệu:
“Ngày 20/12/1960, tại Ô Thum, xã Ô Lâm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh An Giang được thành lập. Hai tháng sau, ngày 20/2/1961, tổ chức chính thức ra mắt nhân dân. Trong buổi lễ lịch sử đó, Chủ tịch Bùi Đức Tâm đã đọc lời hiệu triệu kêu gọi đồng bào các dân tộc, tôn giáo, binh sĩ yêu nước đứng lên đấu tranh”.
Điều đặc biệt là địa điểm diễn ra sự kiện quan trọng ấy không phải một cơ quan hành chính hay một căn cứ quân sự bí mật, mà chính là chùa Tà Miệt Trên - một ngôi chùa Khmer nằm giữa vùng căn cứ cách mạng Thất Sơn.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Khmer Chau Mô Ni Sóc Kha, tiền thân chùa Tà Miệt Trên nằm ở vùng ruộng trên dưới chân Núi Dài, nay được gọi là chùa Tà Miệt Dưới. Trong những năm tháng kháng chiến, do là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng, chùa nhiều lần bị quân địch đánh phá ác liệt.
Để bảo vệ chư tăng và phật tử, năm Phật lịch 2483 (năm 1940), các sư sãi đã di dời đến khu vực sát chân Núi Dài, dựng một am nhỏ lợp tranh trên phần đất vườn xoài do ông Nâp (Tà Nập) hiến tặng. Từ đó, một điểm tựa tâm linh mới hình thành - đồng thời trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trong cộng đồng Khmer nơi đây.
Trong dòng chảy cách mạng, chùa không đứng ngoài cuộc. Các nhà sư vừa giữ vai trò hướng dẫn đời sống tinh thần cho đồng bào, vừa trở thành những người đồng hành cùng cách mạng.
Trong số 14 ủy viên Ủy ban Mặt trận tỉnh An Giang ra mắt năm 1961 có Hòa thượng Chau Sóc (sinh năm 1911), sãi cả chùa Wat Bâng (xã Ô Lâm). Ông trở thành vị sư Khmer đầu tiên của An Giang tham gia tổ chức Mặt trận tỉnh.
Đại đức Chau Ráp, sãi cả chùa Wat Bâng, tự hào chia sẻ: “Hòa thượng Chau Sóc là một vị sư có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng Khmer. Ngài không chỉ giảng đạo mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, vận động đồng bào hướng về cách mạng”.

Ông Chau Sol (sinh năm 1937), một phật tử từng sống dưới thời Hòa thượng Chau Sóc trụ trì, hiện cư trú tại xã Ô Lâm, vẫn nhớ rõ hình ảnh vị sư đáng kính:
“Hòa thượng Chau Sóc là người đa tài. Trong những buổi thuyết pháp, ngài khéo léo kết nối giáo lý nhà Phật với lòng yêu quê hương, đất nước. Những lời giảng về lòng từ bi, cứu khổ, cứu nạn được ngài gắn với khát vọng thoát khỏi áp bức, bất công. Nhờ đó, nhiều thanh niên Khmer khi ấy đã giác ngộ, tự nguyện tham gia cách mạng”.
Từ mái chùa ấy, nhiều thế hệ người Khmer đã bước vào con đường đấu tranh vì độc lập, tự do. Trong số đó có Néang Nghés (1942 - 1962), nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân dân tộc Khmer duy nhất của tỉnh An Giang.
Được hun đúc tinh thần yêu nước từ quê hương và mái chùa, khi tuổi đời còn rất trẻ, chị tham gia cách mạng, làm công tác giao liên, vận động nhân dân chống chính sách dồn dân lập “ấp chiến lược”.

Tháng 3/1962, trong một lần làm nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Trải qua những trận tra khảo khắc nghiệt, người nữ chiến sĩ vẫn kiên cường giữ vững khí tiết, không khai báo đồng đội. Ngày 15/3/1962, chị bị địch xử bắn tại cánh đồng thuộc phum Chông Khsách.
“Sự hy sinh của Néang Nghés không làm đồng bào Khmer nao núng, mà trở thành ngọn lửa tiếp thêm sức mạnh cho phong trào yêu nước trong cộng đồng”, ông Nguyễn Tiếc Hùng nhận định.
Câu chuyện về Néang Nghés, về Hòa thượng Chau Sóc và chùa Tà Miệt Trên đã trở thành những dấu mốc khẳng định truyền thống đoàn kết, một lòng theo Đảng, theo cách mạng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Từ ngọn lửa cách mạng được nhen nhóm dưới những mái chùa Tà Miệt Trên, Wat Bâng, tinh thần yêu nước trong cộng đồng Khmer vùng Bảy Núi ngày càng lan tỏa mạnh mẽ. Những ngôi chùa không chỉ là nơi gửi gắm đời sống tâm linh, mà còn trở thành điểm tựa tinh thần, nơi kết nối nhân dân với cách mạng trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Tại Hội thảo khoa học “Chiến thắng Đồi Tức Dụp trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước” do Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang tổ chức năm 2013, các nhà nghiên cứu và chuyên gia quân sự Quân khu IX nhận định: sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chính là một trong những nhân tố quyết định làm nên những chiến thắng tưởng chừng không thể.

Minh chứng rõ nét nhất là cuộc chiến đấu kéo dài 128 ngày đêm tại Đồi Tức Dụp (từ ngày 17/11/1968 đến 24/3/1969). Ngọn đồi nằm giữa vùng Thất Sơn khi ấy được quân đội Mỹ đặt biệt danh “2 triệu đô la” bởi lượng bom đạn khổng lồ đã trút xuống nhằm đánh bật lực lượng cách mạng đang bám trụ.
Trong cuộc đối đầu sinh tử ấy, bên cạnh những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu dưới lòng núi, đồng bào Khmer quanh vùng đã tạo nên một mạng lưới hậu cần đặc biệt, góp phần duy trì sức chiến đấu của quân và dân ta.
Dù địch dùng máy bay B52 đánh phá ác liệt, làm sập chùa Snayđonkum (sau này bà con kính gọi là chùa B52), nhưng không thể khuất phục ý chí của người dân.
Bằng sự mưu trí và lòng quyết tâm, bà con Khmer đã bí mật đào hệ thống giao thông hào nối từ khu vực chùa B52 đến chân Đồi Tức Dụp để vận chuyển lương thực, thuốc men cho bộ đội. Nhiều phật tử bên ngoài mang danh nghĩa vào chùa dâng cơm, cúng Phật, nhưng thực chất là để tiếp tế cho lực lượng cách mạng.
Khi màn đêm buông xuống, từ những hang núi hiểm trở, các chiến sĩ du kích âm thầm xuống nhận nhu yếu phẩm, rồi trở lại vị trí chiến đấu.
Không chỉ tiếp tế, người dân còn sẵn sàng che chở cán bộ, chiến sĩ trong những thời điểm hiểm nguy nhất. Có gia đình Khmer cho bộ đội trú ẩn, nhận là người thân để đánh lạc hướng quân địch. Có những nhà sư giúp chiến sĩ cải trang, xuống tóc, cùng ngồi tụng kinh niệm Phật để tránh các cuộc truy xét.
Những câu chuyện ấy cho thấy sức mạnh của niềm tin và sự gắn bó giữa nhân dân với cách mạng trong một giai đoạn lịch sử đầy thử thách.

Bà Nguyễn Thị Nga, nguyên cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, từng kể lại những ký ức xúc động:
“Nhiều bà mẹ Khmer dù cuộc sống còn thiếu thốn vẫn chắt chiu từng lon gạo dành cho Bộ đội Cụ Hồ. Nhiều phụ nữ lấy lý do đi ‘cúng trăng’, ‘cúng thần núi’ để mang thức ăn, thuốc men giấu vào các cửa hang”.
Chính sự đùm bọc, che chở ấy đã tạo nên một thế trận lòng dân vững chắc, giúp lực lượng cách mạng với điều kiện hạn chế có thể đứng vững trước những cuộc càn quét quy mô lớn của đối phương có máy bay, xe tăng và pháo binh yểm trợ.

Sau chiến tranh, những giá trị được hun đúc từ thời kỳ ấy tiếp tục trở thành nền tảng để vùng đất Ô Lâm phát triển trong thời bình.
Xã Ô Lâm hôm nay được hình thành trên cơ sở sáp nhập ba xã: Ô Lâm, An Tức và Lương Phi. Theo ông Chau Sóc, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Ô Lâm, cả ba địa phương tiền thân đều vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và là quê hương của ba cá nhân anh hùng.
“Truyền thống anh hùng ấy là niềm tự hào, đồng thời là động lực để các thế hệ hôm nay tiếp tục xây dựng quê hương”, ông Chau Sóc chia sẻ.
Từ hào khí của một vùng căn cứ cách mạng, đồng bào Khmer Ô Lâm đang tiếp tục viết tiếp câu chuyện phát triển bằng chính sức lao động, tri thức và sự đồng lòng trong công cuộc xây dựng quê hương.

Những giá trị được hun đúc từ lịch sử không chỉ nằm lại trong ký ức. Hôm nay, trên vùng đất từng là căn cứ cách mạng năm xưa, truyền thống ấy đang được tiếp nối bằng những công trình văn hóa, bằng sự đổi thay trong đời sống và bằng khát vọng vươn lên của các thế hệ người Khmer.
Năm 2005, với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và sự chung tay của cộng đồng, chùa Tà Miệt Trên được xây dựng lại khang trang, trở thành một công trình tâm linh tiêu biểu của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.
Đại đức Chau Ra Quít, sãi cả chùa Tà Miệt Trên, cho biết:
“Đến tháng 6/2013, bia lưu niệm ghi dấu sự kiện thành lập Mặt trận tỉnh An Giang (song ngữ Việt - Khmer) được khánh thành trong khuôn viên chùa. Đây không chỉ là dấu mốc lịch sử, mà còn là nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay”.
Nếu chùa Tà Miệt Trên lưu giữ ký ức về phong trào cách mạng, thì chùa Tà Miệt Dưới lại trở thành nơi bảo tồn một giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer.
Năm 1989, chính quyền địa phương phối hợp cùng nhà chùa khôi phục Lễ hội đua bò truyền thống tại sân chùa. Từ sự kiện ban đầu ấy, Lễ hội Đua bò Bảy Núi dần được mở rộng, trở thành một nét văn hóa độc đáo, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia..
Từ một sinh hoạt cộng đồng gắn với đời sống nông nghiệp, lễ hội ngày nay đã trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc, góp phần quảng bá hình ảnh vùng đất và con người Khmer An Giang.

Rời những câu chuyện lịch sử, chúng tôi đến chùa Wat Bâng và gặp Đại đức Chau Ráp đang miệt mài bên máy tính. Vị sư trẻ không chỉ đảm nhiệm việc Phật sự, mà còn nghiên cứu khoa học, hoàn thiện luận văn thạc sĩ với đề tài về giải pháp phát triển làng nghề sản phẩm từ cây thốt nốt ở Ô Lâm.
Hình ảnh một nhà sư Khmer sử dụng tri thức hiện đại để tìm hướng phát triển kinh tế từ chính sản vật quê hương, là nét chấm phá sinh động về sự thay đổi của vùng đất này.
Đó cũng là minh chứng cho việc thế hệ trí thức Khmer hôm nay đang tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, bằng những cách thức mới: Gìn giữ văn hóa truyền thống nhưng đồng thời chủ động tiếp cận khoa học, công nghệ.

Dọc theo những phum sóc dưới chân Núi Dài, những ngôi nhà mới khang trang xen giữa ruộng lúa xanh ngát là hình ảnh dễ bắt gặp. Đời sống của nhiều hộ Khmer đã có những bước chuyển rõ rệt.
Trong căn nhà đúc một trệt một lầu nằm cạnh chùa Tà Miệt Dưới, anh Chau Kóp (sinh năm 1969) chia sẻ niềm vui về sự đổi thay của gia đình:
“Tôi có được cuộc sống như hôm nay là nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự hỗ trợ của địa phương”.
Trước đây, gia đình anh chủ yếu canh tác lúa. Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, anh mạnh dạn chuyển sang mô hình xen canh một vụ lúa, một vụ màu với các loại cây có giá trị kinh tế như gừng, sắn, đậu và cây ăn trái. Mỗi năm, mô hình mang lại thu nhập hơn 200 triệu đồng.
Theo ông Pong Tốk, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Ô Lâm, từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống người dân Khmer nơi đây đang từng bước nâng lên: “Bà con không chỉ thoát nghèo mà còn biết tích lũy, đầu tư cho con em học hành, để thế hệ trẻ có kiến thức quay về phục vụ quê hương”.

Sự thay đổi ấy cũng hiện diện trong chính gia đình ông Chau Sóc, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Ô Lâm.
Là con trai của một thương binh từng chiến đấu tại Đồi Tức Dụp, ông tiếp nối truyền thống gia đình, tham gia quân đội rồi trở về địa phương công tác trong lĩnh vực Mặt trận, cựu chiến binh.
Ngoài công việc xã hội, vợ chồng ông duy trì sản xuất 20 công ruộng và mở cửa hàng tạp hóa để chăm lo việc học cho các con.
Hiện con trai lớn của ông đang theo học ngành Bảo vệ thực vật tại Đại học Cần Thơ; người con út vừa hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT. Gia đình ông kỳ vọng sau khi tốt nghiệp, các con sẽ trở về quê, ứng dụng kiến thức và công nghệ để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho bà con.
Hằng năm, hoạt động đua bò diễn ra ngay trong khuôn viên của chùa, góp phần bảo tồn một nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer vùng biên viễn Thất Sơn. Ảnh: Tùng Hương
Những người trẻ như con ông Chau Sóc, hay những nhà sư trẻ như Đại đức Chau Ráp, đang trở thành những nhân tố quan trọng trong hành trình phát triển mới của vùng đất Thất Sơn.
Họ không chỉ kế thừa truyền thống của cha ông, mà còn mang theo tri thức, công nghệ và tinh thần đổi mới để xây dựng cộng đồng ngày càng vững mạnh.
“Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại vùng biên viễn Thất Sơn không phải là điều gì xa rời cuộc sống. Đó chính là giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ niềm tin của nhân dân, bảo vệ sự bình yên và phát triển của từng phum sóc”, ông Pong Tốk nhấn mạnh.

Dưới những mái chùa Khmer, câu chuyện về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và khát vọng dựng xây quê hương vẫn đang được tiếp nối qua từng thế hệ.
Từ những ngày tháng chiến tranh gian khó đến nhịp sống đổi mới hôm nay, chùa Tà Miệt Trên và những ngôi chùa Khmer vùng Bảy Núi vẫn là những điểm tựa văn hóa, tinh thần đặc biệt - nơi lưu giữ ký ức lịch sử và lan tỏa sức mạnh của lòng dân giữa vùng đất Thất Sơn.
Thực hiện: Tùng Hương
Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa

Khảo sát về sự tương quan của Thập Ba-la-mật & Thập địa Bồ-tát trong trường phái Trung quán

Tác giả Nguyễn Trung Toàn giao lưu, ra mắt sách “Rong chơi đất Phật” tại Báo Giác Ngộ

Lai Châu: Phiên trù bị Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Lai Châu lần IV, 2026-2031

Đắk Lắk: Niệm Phật đường Phước Chánh rót đồng tôn tạo tượng Đức Phật Bổn Sư
![[Ảnh] Chùa Bửu Đà (P.Hòa Hưng) dâng hương tưởng niệm anh hùng liệt sĩ tại Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng](https://cdn-gameportal.qimbot.com/crawled/9423c0eccdb95079.webp)
[Ảnh] Chùa Bửu Đà (P.Hòa Hưng) dâng hương tưởng niệm anh hùng liệt sĩ tại Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng



