Luật Mật Viện Thắng Nghiêm38 Khúc Thuỷ, xã Bình Minh, Tp. Hà Nội
Chùa Thắng Nghiêm
Tin tức nhà chùa

Tín niệm Bồ-tát Địa Tạng tại các quốc gia Đông Á

Tác giả: Ban biên tập14:00 10/09/20261 lượt xem
Chia sẻ:

GNO - Bồ-tát Địa Tạng (Kṣitigarbha; 地藏) hiện diện trong các truyền thống Phật giáo Đại thừa là hiện thân của “nguyện lực rộng lớn và sâu dày”, được thể hiện cụ thể qua danh hiệu của Ngài.

GNO - Bồ-tát Địa Tạng (Kṣitigarbha; 地藏) hiện diện trong các truyền thống Phật giáo Đại thừa là hiện thân của “nguyện lực rộng lớn và sâu dày”, được thể hiện cụ thể qua danh hiệu của Ngài.

Với công hạnh và sở nguyện đặc biệt, hình tượng Bồ-tát Địa Tạng trở nên phổ biến và nhận được sự sùng kính lớn lao của số đông, đặc biệt tại các quốc gia Đông Á.

Đại Tạng Đại sĩ, tượng gỗ sơn thếp, thời kỳ Kamakura, thế kỷ XIV, Nhật Bản
Đại Tạng Đại sĩ, tượng gỗ sơn thếp, thời kỳ Kamakura, thế kỷ XIV, Nhật Bản

Một trong những nền tảng để định hình nên tín niệm đối với Bồ-tát Địa Tạng đó chính là bản kinh văn liên hệ trực tiếp đối với Ngài, đó là Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện kinh (gọi tắt là kinh Địa Tạng). Trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện kinh (Skt: Kṣitigarbhapraṇidhāna-sūtra, 地藏菩薩本願經) thuộc bộ Kinh Tập, gồm 2 quyển. Với Hán bản do ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda, 實叉難陀) dịch vào khoảng thế kỷ thứ VII. Hiện nay, vấn đề lịch sử truyền bản của kinh Địa Tạng vẫn còn là điều đang được thảo luận khi Phạn bản hoàn chỉnh của bản kinh văn này vẫn chưa được tìm thấy. Tại Trung Hoa, bản kinh cùng với tín niệm Bồ-tát Địa Tạng bắt đầu phổ biến rộng rãi dưới thời nhà Đường vào khoảng thế kỷ thứ VII. Tuy nhiên, các nghiên cứu xác định rằng bản kinh Địa Tạng bắt đầu được đưa vào Trung Hoa muộn nhất là vào khoảng thế kỷ thứ III với bản dịch của ngài Pháp Cự. Đây cũng là thời kỳ xuất hiện các bản Hán dịch còn tồn tại đến ngày nay như bản dịch của Tam tạng Pháp sư Pháp Đăng hay ngài Thật-xoa-nan-đà.

Tín niệm Bồ-tát Địa Tạng trong Phật giáo vùng Himalaya

Xuất hiện và chiếm ưu thế gần như tuyệt đối tại các quốc gia, khu vực và cộng đồng sinh sống trên vùng Himalaya, Phật giáo Kim cương thừa sở hữu một hệ thống pháp điển, nghi quỹ hành trì, biểu tượng,… khá phong phú và có phần phức tạp.

Bồ-tát Địa Tạng, tượng đồng, thế kỷ XVII, Tây Tạng

Bồ-tát Địa Tạng, tượng đồng, thế kỷ XVII, Tây Tạng

Trong số đó, Bồ-tát Địa Tạng (ས་ཡི་སྙིང་པོ) nằm trong hệ thống Bát đại Bồ-tát (ཉེ་བའི་སྲས་བརྒྱད་), tức 8 vị Bồ-tát vĩ đại, chiếm một vị trí đặc biệt trong Phật giáo Kim cương thừa, thường gắn liền với 8 phương hướng trong không gian, với năng lực bảo hộ chúng sanh khỏi bệnh tật, khổ ách và chiến tranh, tai nạn. Bát đại Bồ-tát bao gồm: Bồ-tát Văn Thù, Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Kim Cương Thủ, Bồ-tát Địa Tạng, Bồ-tát Hư Không Tạng, Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Trừ Cái Chướng. Tuy nhiên, cũng có nhiều sự khác biệt trong danh hiệu các vị Bồ-tát trong số Bát đại Bồ-tát tùy thuộc vào truyền thống và nền tảng kinh văn được sử dụng.

Trong truyền thống Phật giáo Kim cương thừa, hình tượng Bồ-tát Địa Tạng được thể hiện dưới hình dạng một vị Vương tử với dung mạo thanh tú, phục sức lộng lẫy, mái tóc dài, tay cầm bảo châu hoặc nhành cây non. Ngoài ra, hình tượng Bồ-tát Địa Tạng còn được thể hiện trong hóa thân phẫn nộ với thân hình sắc xanh, gương mặt dữ tợn với ngọn lửa cháy rực bao quanh.

Bồ-tát Địa Tạng và Tứ đại Phật giáo danh sơn tại Trung Hoa

Niềm tin và sự kính ngưỡng đối với Bồ-tát Địa Tạng (地藏) được thể hiện vô cùng sâu sắc trong Phật giáo Trung Hoa. Là một trong những quốc gia có vai trò chính yếu trong việc định hình và truyền bá tín niệm Bồ-tát Địa Tạng đến các khu vực khác tại Đông Á, dưới thời Đường, việc thờ phụng vị Bồ-tát được tôn xưng là “U minh Giáo chủ” bắt đầu trở nên phổ biến. Nhiều vị Đại sư của Phật giáo Trung Hoa đã có vai trò lớn trong việc xiển dương bản kinh Địa Tạng, có thể kể đến Liên Trì Đại sư và Ngẫu Ích Đại sư là Tổ sư đời thứ 8 và thứ 9 của Tịnh Độ tông, hay gần hơn nữa là Đại sư Ấn Quang và Pháp sư Tịnh Không.

Bồ-tát Địa Tạng, thangka màu nước, Tu Di Phúc Thọ miếu, thế kỷ XVIII, thời Thanh, Hà bắc, Trung Quốc

Bồ-tát Địa Tạng, thangka màu nước, Tu Di Phúc Thọ miếu, thế kỷ XVIII, thời Thanh, Hà bắc, Trung Quốc

Trong Phật giáo Trung Hoa, hình tượng Bồ-tát Địa Tạng được thể hiện dưới hình dạng một vị Tỳ-kheo đầu tròn áo vuông, mình vận cà-sa, tay phải nâng bảo châu với ngụ ý chiếu soi vào cõi U minh tăm tối, tay trái cầm tích trượng để phá tan mọi oan khiên, khổ ách, cứu độ chúng hữu tình còn trôi lăn trong lục đạo luân hồi. Đôi khi, xuất hiện bên cạnh Địa Tạng Đại sĩ còn có một thần thú tên Đế thính với đôi tai bén nhạy có thể nghe được những âm thanh vi tế nhất.

Từ Trung Hoa, hình tượng Địa Tạng Đại sĩ được truyền bá rộng rãi, định hình cách nhìn phổ biến trong số đông đối với vị Bồ-tát này. Đặc biệt hơn cả, trong văn hóa Phật giáo Trung Hoa, có 4 ngọn núi thiêng được xem là đạo tràng của 4 vị đại Bồ-tát với danh xưng Tứ đại Phật giáo danh sơn (四大佛教名山) gồm: Ngũ Đài sơn (五臺山, tọa lạc tại tỉnh Sơn Tây) của Bồ-tát Văn Thù, Nga Mi sơn (峨嵋山, tỉnh Tứ Xuyên) của Bồ-tát Phổ Hiền, Phổ Đà sơn (普陀山, tỉnh Chiết Giang) của Bồ-tát Quán Thế Âm và Cửu Hoa sơn (九華山, tỉnh An Huy) của Bồ-tát Địa Tạng.

Vị Bồ-tát bảo hộ cho trẻ em và khách lữ hành tại Nhật Bản

Có thể nói, Nhật Bản là một trong số những truyền thống Phật giáo có sự sùng kính cực kỳ lớn lao đối với Bồ-tát Địa Tạng (Jizō Bosatsu). Hình tượng Địa Tạng Đại sĩ gần như hiện diện tại khắp nơi trên đất nước Nhật Bản, dọc lối đi trong làng, ở cửa vào nhà, tại nghĩa trang, trong khuôn viên chùa chiền hay trên những con đường mòn trên núi,…

Địa Tạng Đại sĩ, tượng gỗ thếp vàng thời kỳ Kamakura, thế kỷ XII-XIII, Nhật Bản

Địa Tạng Đại sĩ, tượng gỗ thếp vàng thời kỳ

Kamakura, thế kỷ XII-XIII, Nhật Bản

Khi du nhập vào Nhật Bản, từ vị trí một vị Bồ-tát trong Phật giáo Đại thừa, hình tượng Địa Tạng Đại sĩ được pha trộn với tín ngưỡng dân gian để trở thành một vị thần bảo hộ cho con người trần thế, đặc biệt là cho trẻ em, sản phụ hay những lữ khách trên đường xa, vượt ngoài ý nghĩa của một vị “U minh Giáo chủ” như trong các truyền thống Phật giáo khác.

Có một câu chuyện dân gian được lưu truyền từ lâu tại Nhật Bản được xem là biểu hiện của lòng từ bi và tình thương của Địa Tạng Đại sĩ. Thuở xưa, có một đôi vợ chồng già nghèo khổ sống ở ven rừng. Khi năm mới đang đến gần, trong nhà không còn gì để có thể làm thức ăn, hai vợ chồng bèn bện mũ rơm để ông lão đem ra chợ bán lấy tiền. Tuy nhiên, trong những ngày cuối năm tất bật, không ai ghé lại mua mũ rơm của ông lão. Đến chiều muộn, ông lão bèn mang những chiếc mũ rơm quay về nhà trong khi tuyết rơi ngày càng dày. Trên đường về, ông lão bắt gặp 10 bức tượng đá Địa Tạng Đại sĩ đứng bên đường bị tuyết phủ trắng đỉnh đầu.

Tôn dung Địa Tạng Đại sĩ, tượng gỗ vẽ vàng, thời kỳ Kamakura, thế kỷ XIV, Nhật Bản

Tôn dung Địa Tạng Đại sĩ, tượng gỗ vẽ vàng, thời kỳ Kamakura, thế kỷ XIV, Nhật Bản

Cảm động trước hình ảnh ấy, ông lão bèn đứng lại phủi sạch tuyết trên các pho tượng và lấy những chiếc nón rơm đội lên che cho tượng, đến pho tượng thứ 10, ông không còn chiếc nón rơm nào ngoài chiếc đang đội, ông bèn tháo chiếc nón rơm của mình để đội cho tượng và quay về nhà. Về đến nhà, ông kể lại cho bà lão nghe câu chuyện ấy, hai vợ chồng đều hết sức hoan hỷ về việc tốt mà mình đã làm được. Hai người bèn nấu chút cháo loãng với số gạo ít ỏi còn lại và đi ngủ.

Nửa đêm, hai vợ chồng bị đánh thức bởi tiếng leng keng của kim loại vang lên ngoài cửa. Khi thức dậy và mở cửa ra xem, hai ông bà hết sức ngạc nhiên thấy thực phẩm chất đầy trước cửa và xa xa, nơi phía rừng cây là bóng dáng của 10 vị Địa Tạng đá đang chống gậy rời đi trong trời tuyết với chiếc mũ rơm trên đầu.

Nhiều người tin rằng, câu chuyện này chính là điểm khởi đầu cho truyền thống mặc áo và đội mũ len đỏ cho những bức tượng Địa Tạng Đại sĩ tại nhiều nơi ở Nhật Bản.

Vị Bồ-tát cứu khổ độ u trong văn hóa Việt

Hình tượng Địa Tạng Đại sĩ trong Phật giáo Việt Nam gần như tương đồng với các truyền thống Phật giáo khác trong khu vực. Tuy nhiên, với những đặc điểm phong phú trong dòng chảy văn hóa qua các thời đại, hình tượng Địa Tạng Đại sĩ cũng có những nét khác biệt, hài hòa với tinh thần bản xứ.

Thông thường, ở Việt Nam, các tranh tượng Địa Tạng thường được thể hiện dưới hình tướng tu sĩ, mình vận cà-sa sắc đỏ, tay phải nâng minh châu, tay trái chống tích trượng, đầu đội mão Tỳ-lô Ngũ Phật. Tại chùa Thiên Mụ (TP.Huế) vẫn còn lưu giữ mộc bản Địa Tạng Đại sĩ với hình tướng này vô cùng sống động, uyển chuyển.

Tôn dung Đại Tạng Bồ-tát, tranh in mộc bản, lưu trữ tại Quốc tự Thiên Mụ, TP.Huế
Tôn dung Đại Tạng Bồ-tát, tranh in mộc bản, lưu trữ tại Quốc tự Thiên Mụ, TP.Huế

Tư thế được thể hiện trong tranh tượng Bồ-tát Địa Tạng cũng hết sức phong phú: có khi Ngài ngồi kiết-già trên tòa sen, ngự trên lưng con Đế thính hoặc xuất hiện nhiều hơn cả là trong tư thế đứng trên đài sen. Riêng với truyền thống Phật giáo tại miền Bắc, tượng Địa Tạng thường đội mão Thất Phật hoặc mão Liên hoa, tay nâng bảo kính như pho tượng được thờ phụng tại chánh điện tổ đình Vĩnh Nghiêm (tỉnh Bắc Ninh). Cũng cần nói thêm, việc tạo tác hình tượng Bồ-tát Địa Tạng đội mão Thất Phật còn xuất hiện ở miền Nam trong khoảng thập niên 50-60, theo chân những cộng đồng người Bắc di cư vào Nam như tại TP.HCM có tượng Địa Tạng tại Nghĩa trang Đô Thành (P.Hòa Hưng, sau được đưa về tôn trí tại Quan Âm tu viện, TP.Đồng Nai), tượng Địa Tạng tại chùa Nam Thiên Nhất Trụ (P.Thủ Đức), chùa An Lạc (P.Bến Thành) hay đặc sắc hơn cả là pho tượng Địa Tạng bằng gỗ sơn son thếp vàng với thân quang thể hiện Lục đạo luân hồi của chùa Phước Hòa (P.Bàn Cờ)…

Nhiều bức tượng cỡ lớn của Bồ-tát Địa Tạng cũng được tôn trí tại khuôn viên các tự viện, nghĩa trang hoặc những nơi vốn từng diễn ra giao tranh chiến trận khốc liệt với niềm tin của đại đa số nhân dân rằng sự hiện diện của Bồ-tát Địa Tạng sẽ che chở, an ủi và dẫn dắt những linh hồn không rơi vào thống khổ.

Cùng với việc sùng kính Bồ-tát Địa Tạng, việc phiên dịch kinh Địa Tạng cũng được các bậc cao đức với sở học uyên thâm thực hiện từ rất sớm. Đây cũng là một trong số những bản kinh được in ấn và lưu hành phổ biến nhất ở nước ta. Cho đến nay, tại Việt Nam, hai bản dịch kinh Địa Tạng được phổ biến rộng rãi nhất là bản dịch của Đại lão HT.Thích Trí Tịnh từ bản của Tam tạng Pháp sư Pháp Đăng và bản dịch của Đại lão HT.Thích Trí Quang từ bản của ngài Thật-xoa-nan-đà.

Nguồn: giacngo.vn

Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa