Luật Mật Viện Thắng Nghiêm38 Khúc Thuỷ, xã Bình Minh, Tp. Hà Nội
Chùa Thắng Nghiêm
Tin tức nhà chùa

Ni trưởng Thích Đàm Nhung: Nương ánh hương sào, một đời giữ đạo

Tác giả: Ban biên tập18:00 18/09/20261 lượt xem
Chia sẻ:

GNO - Dấu ấn của Ni trưởng Thích Đàm Nhung, bậc trưởng lão Ni để lại trong lòng Tăng Ni xứ Thanh chính là lòng kính tín vẹn nguyên với từng bộ kinh vỡ lòng từ thuở mới đầu học đạo.

GNO - Dấu ấn của Ni trưởng Thích Đàm Nhung, bậc trưởng lão Ni để lại trong lòng Tăng Ni xứ Thanh chính là lòng kính tín vẹn nguyên với từng bộ kinh vỡ lòng từ thuở mới đầu học đạo.

Đi qua trọn một thế kỷ gian truân, kinh qua những giai đoạn ngặt nghèo nhất của lịch sử, từ thời gánh nước giếng làng, nhặt củi rừng thổi cơm, cho đến những ngày vừa ra đồng cắt rạ vừa tranh thủ tọa thiền trong khói lửa chiến tranh, cho đến khi đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của Phật giáo tỉnh Thanh Hóa, rồi lui về chốn Tổ chùa Tranh nghỉ ngơi tịnh dưỡng, dấu ấn của Ni trưởng Thích Đàm Nhung, bậc trưởng lão Ni để lại trong lòng Tăng Ni xứ Thanh chính là lòng kính tín vẹn nguyên với từng bộ kinh vỡ lòng từ thuở mới đầu học đạo.

Cùng Báo Giác Ngộ lắng nghe những lời tự sự đầy xúc động của Ni trưởng Thích Đàm Nhung, nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự, nguyên Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thanh Hóa, Chứng minh Phân ban Ni giới T.Ư - người đã trọn đời lấy câu kinh tiếng kệ và lối sống thanh bần làm cốt tủy giữ đạo:

Từ những câu kinh vỡ lòng…

Tôi sinh ra trong một gia đình có truyền thống hướng Phật tại vùng đất Đông Thọ (Thanh Hóa) xưa. Nhà tôi vốn có phúc duyên lớn, trong đại gia đình có người anh con nhà bác ruột xuất gia hầu Phật. Chắc cũng vì cái duyên ấy mà từ thuở lên sáu, lên bảy, chân tôi đã quen chạy chơi nơi cảnh chùa. Câu kinh, tiếng chuông, mùi trầm cứ thế thấm dần vào máu thịt. Đến năm sáu tuổi, tôi chính thức xin gia đình cho ở hẳn trong chùa để tu học, tính đến nay tuổi mụ cũng đã tròn 101 tuổi rồi.

Ni trưởng Thích Đàm Nhung đã ngoài 100 tuổi nhưng hàng ngày vẫn đọc kinh Phật

Ni trưởng Thích Đàm Nhung đã ngoài 100 tuổi nhưng hàng ngày vẫn đọc kinh Phật

Ngày đó, tôi được quy y và làm đệ tử của cụ Tổ Thích Đàm An. Cụ chính là Thầy nghiệp sư, người dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên trên con đường đạo. Thời của cụ gian nan lắm, vừa lo cho chốn Tổ, vừa gánh vác Phật sự trong Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Thanh Hóa. Giờ cụ đã quy Tây, bảo tháp chính vẫn nằm tôn nghiêm ngoài kia, chứng kiến bao đổi thay của ngôi chùa này.

Trải qua ngót nghét một thế kỷ ở chùa, từ thuở tóc còn để chỏm chấp tác cho đến khi được đăng đàn thọ nhận giới pháp Sa-di-ni rồi Tỳ-khưu-ni, những ký ức cũ đối với tôi vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.

Người mới xuất gia ngày đó quy củ nghiêm ngặt lắm, phải học thuộc lòng thiền môn luật nghi trước rồi mới được học kinh. Muốn học chữ, học kinh, thầy trò chúng tôi phải đốt từng cây hương sào (loại nhang lớn). Cứ nương vào cái ánh sáng le lói, lập lòe nơi đầu cây hương ấy mà căng mắt ra nhìn mặt chữ để học thuộc lòng từ bài kệ thỉnh chuông, cúng cháo, cho đến các khoa tụng niệm.

Sinh hoạt thời đó cũng là một thử thách chí tu học. Mặt trời chưa lên, tôi đã phải quảy đôi quang gánh nhỏ đi bộ năm, sáu trăm mét ra giếng làng gánh nước về cho cả chùa sinh hoạt. Rồi lại gánh thêm những gùi củi lượm lặt ngoài vườn, ngoài rừng về để thổi cơm, đun nước.

Đất nước lúc đó rơi vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, tiếp đến là thời kỳ bao cấp khó khăn chồng chất. Chùa chiền ít Phật tử đến lễ bái, hộ trì như bây giờ. Muốn tu thì phải tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp theo lời Tổ dạy “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Ban ngày, chúng tôi phải ra ruộng cấy lúa, gặt hái, cắt rạ vất vả như người nông dân thực thụ. Tối đến, sau một ngày lao tác mỏi nhừ cả tấm thân, mới lại tranh thủ thắp hương tọa thiền, học đạo.

Nhiều người hỏi tôi, suốt 95 năm ở chùa, điều gì làm tôi tâm đắc và khắc cốt ghi tâm nhất? Tôi chỉ nhớ những lời dạy giản dị của cụ Tổ Đàm An. Từ thuở nhỏ, cụ dạy tôi những bài “Cảnh sách vỡ lòng”, uốn nắn oai nghi, phá trừ tâm lý giải đãi, dạy cách niệm Phật, thỉnh chuông. Những lời dạy ấy giúp tôi tìm thấy niềm vui, sự an lạc ngay trong cảnh thiếu thốn, gian khổ của chiến tranh. Khi cụ Tổ viên tịch, xung quanh chẳng còn ai nương tựa, một mình tôi phải tự vững tay chèo, lùi lại phía sau để gìn giữ chốn tổ và tiếp dẫn cho thế hệ mai sau.

Áo nâu nhuốm khói lửa chiến tranh

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt, đặc biệt là giai đoạn bảo vệ cầu Hàm Rồng lịch sử (1963-1972), thầy trò chùa Tranh chúng tôi đã sống những ngày tháng “tự độ, độ tha” theo một cách rất đặc biệt. Khi máy bay địch đánh phá dữ dội, tôi cùng bà con Phật tử lên đồi chặt từng cành cây mốc, một loại cây lá nhỏ nhưng rất dai và dày, mang về trận địa ngụy trang cho các khẩu pháo của bộ đội để che mắt quân thù.

Nhà chùa luôn đỏ lửa nấu những nồi nước chè xanh lớn, rồi nấu cơm, cháo tiếp tế cho các chiến sĩ bộ đội, công binh và lực lượng thanh niên xung phong. Mỗi vị Ni trong chùa lúc ấy luôn trong tinh thần “3 sẵn sàng”, tích cực chăn nuôi lợn, tăng gia sản xuất để đóng góp lương thực, thực phẩm cho Nhà nước phục vụ tiền tuyến.

Chùa Tranh là nơi nuôi dưỡng các thương bệnh binh trong cuộc chiến
Chùa Tranh là nơi nuôi dưỡng các thương bệnh binh trong cuộc chiến

Đặc biệt, chùa Tranh cùng với chùa Nam Ngạn đã trở thành hậu phương vững chắc cho các thương bệnh binh. Các chiến sĩ bị thương ngoài mặt trận cầu Hàm Rồng trước tiên được đưa về chùa Nam Ngạn để sơ cứu. Sau khi tình hình ổn định, để đảm bảo an toàn tuyệt đối, họ được bí mật chuyển tuyến về chùa Tranh, nơi đây trở thành trạm nuôi dưỡng, chăm sóc thương binh. Bản thân tôi lúc đó ngày đêm cùng Phật tử giặt giũ, nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc cho các anh từng vết thương nhỏ nhất cho đến ngày lành lặn để trở lại chiến trường.

Đi qua những năm tháng bom cày đạn xới, chứng kiến sự đổi thay của đạo pháp và quê hương, tôi thấy lòng mình thanh thản. Những gì tôi đã làm, dù là việc đạo hay việc đời, đều xuất phát từ lòng từ bi của người con Phật và tình yêu đối với mảnh đất quê hương.

Xây dựng Phật giáo tỉnh Thanh Hóa

Trước khi có một Ban Trị sự quy củ như ngày nay, chúng tôi phải bắt đầu từ con số không với danh xưng Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Thanh Hóa. Để vận động thành lập Ban, tôi đã phải lặn lội đến từng ngôi chùa xa xôi bằng những chuyến “xe lai” vượt qua các cung đường gập ghềnh đất đỏ.

Đến mỗi ngôi chùa, tôi đều vào thăm hỏi, động viên các cụ, các thầy bớt chút thời gian chấp tác, gác lại việc riêng của bản tự để tham gia vào việc chung của Giáo hội. Mục tiêu duy nhất lúc ấy là quy tụ lòng người, xây dựng một nền tảng vững chắc để đưa Phật giáo tỉnh nhà dần dần đi lên.

Toàn tỉnh Thanh Hóa khi đó có 11 ngôi chùa, nhưng sau bao tâm huyết vận động, chúng tôi chỉ quy tụ được 7 vị sư tham gia vào Ban Đại diện đầu tiên. Tôi được tin tưởng giao phó làm Trưởng ban, gánh vác một thời gian rồi sau đó mới cung thỉnh Hòa thượng Thích Thanh Cầm ở chùa Thanh Hà nhận trọng trách lãnh đạo.

Nói về khó khăn khi đi vận động ngày ấy, quả thật có những chuyện đến nay nghĩ lại vẫn thấy thương. Đâu phải nơi nào mình đến, người ta cũng hoan hỷ đồng thuận. Nhận thức của các thầy ở vùng sâu, vùng xa khi đó còn nhiều hạn chế, lại thêm những định kiến nặng nề về việc phận Ni giới mà lại đi vận động nên có nơi họ phản ứng gay gắt. Họ bảo họ chỉ muốn yên ổn tụng kinh niệm Phật, không muốn tham gia việc xã hội.

Không chỉ vậy, một số địa phương lúc bấy giờ cũng gây khó dễ, đặc biệt là việc chưa bàn giao lại ruộng đất cho nhà chùa, khiến các sư không có đất canh tác, sản xuất. Gặp những hoàn cảnh như thế, tôi lại lặn lội xuống tận nơi, vào làm việc trực tiếp với UBND xã. Tôi kiên trì giải thích rằng, Phật giáo phát triển thì nhân dân hướng thiện, làng xã sẽ bình yên, đất nước từ đó mà thịnh vượng hơn. Nhờ sự bền bỉ, chân thành, chính quyền dần hiểu ra và tạo điều kiện giúp đỡ.

Giây phút yên bình của vị Ni trưởng ngoài 100 tuổi ở chùa Tranh
Giây phút yên bình của vị Ni trưởng ngoài 100 tuổi ở chùa Tranh

Thời gian thoi đưa, các bạn đồng tu thuở ấy như cụ Sùng Nghiêm Diên Thánh, cụ Thanh Hà, cụ chùa Gia Đầu… tất cả đều đã lần lượt viên tịch. Nghĩ đến những huynh đệ đồng sự năm xưa nay chỉ còn lại mình tôi, lòng không khỏi bùi ngùi. Nhưng tre già thì măng mọc, trách nhiệm của tôi là tiếp tục dìu dắt, nâng đỡ các thế hệ Tăng Ni trẻ kế cận để ngọn đèn Chánh pháp không bao giờ tắt.

Bây giờ đất nước thanh bình, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, xã hội phát triển nên chùa chiền mới được khang trang, Phật tử đông đúc thế này. Tôi giờ tuổi cao sức yếu, chẳng cầu gì hơn ngoài việc mong hàng hậu học biết trân quý đạo pháp, nghiêm trì giới luật.

Cả đời tôi vẫn luôn hướng về kinh Dược Sư và kinh A Di Đà và lấy đó làm chỗ dựa vững chắc trong khi tu học và hành đạo. Những lời kinh ấy đã thấm sâu vào tâm khảm tôi từ thế kỷ trước, đến tận bây giờ nhắm mắt lại tôi vẫn thuộc nằm lòng: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại...”. Giữ được lời kinh, tiếng chuông vang vọng qua giông bão cuộc đời, ấy là hạnh phúc lớn nhất của một đời tu.

Nguồn: giacngo.vn

Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa