Trong sự thiền của mực, trong cái lặng của màu, trong cái tĩnh của toan, sự miệt mài lao động nghệ thuật, những cung bậc trải nghiệm kiếp nhân sinh, sự tinh tấn trong từng pháp tu bật hiện lên trong lòng người họa sĩ muôn vàn nỗi ưu tư. Nhưng Mặc Hương, nhóm họa sĩ của 8 kỳ sen đầu hạ trước cùng các họa sĩ của Trung tâm Unesco Hà Nội, theo dòng chảy của truyền thống và đương đại, đã tụ về đây, trong không gian của Art Space 42 Yết Kiêu này, để mặc hiện lòng kính tín chư Phật.
Vô thường mà bất diệt
Trong thế giới lượng tử, nơi một hạt vi mô electron/photon/nguyên tử có thể tồn tại đồng thời ở nhiều trạng thái, vừa là hạt vừa là sóng, cho đến lúc được đo. Trong thế giới đó, sen cũng được cấu thành từ những hạt lượng tử kích thước nano hay sen tồn tại dưới dạng những dải sóng điện từ trường chứa nhiều năng lượng tích cực. Ở triển lãm mỹ thuật này, sen cũng thiên hình vạn trạng. Vừa là nụ, vừa nở hàm tiếu, vừa mãn khai, vừa úa tàn cho đến khi được quan sát. Vừa là Chủng chủng hương liên hoa vừa là Hương sen, vừa là Thủy nguyệt liên hoa vừa là Từng bước nở hoa sen, vừa là Cánh sen trong sương sớm vừa là Sen hạ, vừa là Liên trì vừa là Liên hoa tâm, vừa là Tâm sen vừa là Hương sen mầu nhiệm cho đến khi Thiên nữ tán hoa. Sen vừa trầm mặc sơn mài vừa rực rỡ sơn dầu, vừa huyền mặc trên lụa vừa huyền ảo đồng hiện, vừa hư ảo biến hóa vừa thủy mặc bồng phiêu lại trừu tượng sâu lắng. Dù là chất liệu gì, dù là bút pháp nào thì sen vẫn theo nguyên lý bất định là tỏa hương thơm ngát. Cho dù có vướng víu lượng tử hay phân rã lượng tử thì sen vẫn mặc định một vẻ đẹp thuần nhiên…

Trước khi quan sát hoặc đo đạc, hệ lượng tử có nhiều vị trí khả dĩ, có thể vừa ở đây vừa ở kia, đóa sen cũng mang trong mình nhiều chiều khác biệt, vừa thuộc về trần thế vừa thanh khiết cao nhiên. Sau khi đo, hệ lượng tử chuyển từ nhiều khả năng về một trạng thái xác định, chỉ còn một kết quả cụ thể. Sự “chồng chập” ấy không phải mâu thuẫn, mà là bản chất của thực tại khi nhìn ở tầng vi tế. Phật giáo nói đó là “Vạn pháp duyên sinh”. Cũng như trước triển lãm, mỗi họa phẩm là một bàn tay kết một loại thủ ấn: thiền định, xúc địa, vô úy, thí nguyện, chuyển pháp luân, liên hoa, kim cang… Còn trong triển lãm Sen đầu hạ IX này, tất thảy hợp thành bàn tay Đại thủ ấn - Nhất niệm Bồ-đề, thiên muôn vạn sen chỉ còn là nhất hoa nhất diệp nhất Như Lai.
Trong ban mai tịch mịch, khi làn sương còn vương trên mặt hồ như một lớp lụa mỏng phất phơ trong gió, đóa bạch sen khẽ hé nở, tựa như một minh chứng hiển nhiên của quy luật sinh diệt. Sinh ra từ sình lầy mà chẳng nhiễm bùn dơ, điều ấy không chỉ là ẩn dụ đạo đức, mà còn hàm chứa một logic diệu vi: trong mọi hệ thống, điều kiện ban đầu không quyết định tuyệt đối bản chất cuối cùng; chính quá trình tương tác và tự điều chỉnh mới định hình giá trị. Mọi thứ tồn tại do tương tác lẫn nhau, trùng trùng duyên khởi... Nếu Sen đầu hạ I đưa ta về hồ nước cũ, phăng phắc một cánh sen hồng, Sen đầu hạ II mới chỉ là nụ sen hé nở thì Sen đầu hạ III “Yue lian kai Blossoming Vietnamese” là ánh sen tỏa lan tới Singapore. Nếu Sen đầu hạ IV là bông sen ngàn cánh dâng lên Đại lễ Thăng Long ngàn năm, Sen đầu hạ V thiền sen bên dòng Hương giang thì Sen đầu hạ VI là đài sen của Đại lễ Vesak Bái Đính. Nếu Sen đầu hạ VII là đóa A lốc ngát thơm, Sen đầu hạ VIII - mặc sen bừng nở trở lại sau đại dịch Covid thì Sen đầu hạ IX chính là lượng tử sen.
Vô lượng tử sen
Với Quảng Lưu Đặng Phương Việt, bản sắc sen của anh là màu mạnh, cực rock, như những mandala chồng chập vào thangka cuồng bay trong phong ba của màu sắc. Ở anh và ở những kỳ Sen đầu hạ trước, là rực rỡ, chói lòa, cuồng phiêu. Những sắc màu khác thường ấy nói lên điều gì? Tâm anh vẫn còn động ư? Nổi loạn và bất định ư? Phá vỡ quy luật ư? Như một hộ pháp trong bát bộ kim cương, như một pháp bảo trong bộ bát cát tường của nhà Phật, mật sen của Việt chắc chắn là bông hỏa liên rừng rực trên đỉnh Lungma. Và ở Sen đầu hạ IX này, anh mang đến bộ 3 tác phẩm sơn mài Quan Thế Âm Bồ-tát, Sen hạ và Đại thủ ấn. Những bàn tay Bồ-tát kết ấn tiếp nối nhau thành một bàn tay kết thủ ấn. Những vầng mây trắng cuộn vào nhau thành một áng mây lớn bồng phiêu miên mật…
Cũng là bàn tay Phật, nhưng ở bức Nhất niệm Bồ-đề (acrylic), “là bàn tay của tinh thần Mật tông, không nhằm mô tả Đức Phật trực tiếp mà gợi một sự hiện diện linh thiêng – lời thì thầm quay vào bên trong để nhận ra sự bình an và tự chủ của chính mình giữa những nhiễu động của đời sống”, Phúc Thiện Trần Lưu Mỹ chia sẻ.
Bức lụa Đức Quan âm tứ tý của Pháp Lạc Nguyễn Thị Nhàn và Phi thiên của Diệu Thanh Trần Nguyệt Hà, có lẽ là những bông tuyết liên của hơi thở phương Đông trong mờ sương ngàn năm, cứ mại bay, cứ mỏng manh, cứ trong suốt…
Còn Liên trì, Điều Ngự, 2 tác phẩm đá của Lương Đức Hùng không thể không là đóa thạch liên cõi hồng trần. Không phải là bông sen hóa thạch vì thời gian mà là đá đã nở hoa dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ trong những sát-na của tỉnh thức.
Khai tâm, Ngũ trí quang của Quảng Đạt Nguyễn Thắng, Huyễn sắc chân như, Thanh âm Vajra, Bạch mã Hương san của Quảng Thiện Nguyễn Đức Quang, những tác phẩm sơn dầu ấy không phải là sen nhưng trình hiện ở đây lại là chùm mộc liên chốn thiên đường, tha hồ liên tưởng, tha hồ suy tưởng... Như trong dải thiên hà, là hằng hà sa số rối lượng tử với bất định dòng chảy của điệp điệp duyên sinh.
Giấc mộng của nước (sơn mài, Phạm Trà My) có phải là thủy liên hoa giữa dòng miên mị? Cá chép đã hóa rồng, trúc ngà đã hóa long, nước có mơ thành sen hay không? Hóa đại liên hoa hay chỉ mộng thành một cánh sen nhỏ nhoi trong đầm để được tỏa hương lên chư Phật? Giấc mộng của My là gì? Trở thành một họa sĩ vang danh hay thành chính bông sen mình vẽ, để bái Phật trước thiên thanh?

Xuất trần không lìa thế
Trong mỹ thuật Phật giáo, sen không đơn thuần là họa tiết trang trí mà là một cấu trúc biểu nghĩa hoàn chỉnh. Từ tòa sen nâng đỡ chư Phật, đến từng cánh sen được chạm khắc trong những ngôi già-lam cổ tự, mỗi đường nét đều tuân theo một trật tự cân xứng, phản ánh nguyên lý trung đạo: không nghiêng ngả cực đoan, không rơi vào hỗn loạn. Hình học của cánh sen, khi đi sâu phân tích, mang tính lặp lại có quy luật, gần với những mô hình tự đồng dạng, như thể trong mỗi phần tử đều ẩn chứa tổng thể. Điều này gợi liên tưởng đến cách mà một hệ lượng tử được mô tả: toàn thể không thể tách rời bộ phận, và mỗi phần tử lại mang dấu ấn của tổng thể.
Người họa sĩ vẽ sen không chỉ là tả hình, mà còn để biểu đạt ý. Ý ấy là sự tĩnh tại giữa biến động, là giác ngộ giữa vô minh. Nhưng dùng tư duy mà xét, thì “tĩnh” và “động” không phải hai phạm trù tuyệt đối tách biệt. Cũng như trong cơ học lượng tử, trạng thái của một hạt chỉ được xác định khi có sự quan sát, thì cái tĩnh của sen cũng chỉ hiện hữu khi tâm người đạt đến sự an định. Mỹ thuật Phật giáo cũng vậy, không chỉ là nghệ thuật thị giác, mà còn là hệ thống nhận thức, nơi người xem tham gia vào quá trình hoàn tất ý nghĩa của tác phẩm.
Sen, lượng tử và mỹ thuật Phật giáo, tưởng như ba miền khác biệt, kỳ thực lại hội tụ ở một điểm: tất cả đều chỉ ra rằng thực tại không đơn giản như cái nhìn bề mặt. Dưới lớp bùn là mầm sống, sau hình tướng là cấu trúc và ẩn tàng trong cấu trúc là những quy luật sâu xa chi phối. Khi hiểu được điều đó, con người không còn nhìn sen chỉ là một loài hoa, mà thấy trong đó cả một ngân hà thu nhỏ - nơi cái đẹp, cái thiện và cái chân quyện hòa trong một trật tự vừa hợp lẽ vừa ẩn nhiên vừa hiển mặc.






