Luật Mật Viện Thắng Nghiêm38 Khúc Thuỷ, xã Bình Minh, Tp. Hà Nội
Chùa Thắng Nghiêm
Tin tức nhà chùa

Kinh Pháp hoa trong lịch sử và văn hóa Phật giáo Tây Tạng (phần 2)

Tác giả: Ban biên tập08:00 06/08/20262 lượt xem
Chia sẻ:

NSGN - Kinh Pháp hoa giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử và văn hóa Phật giáo Tây Tạng. Được dịch chính thức vào thời kỳ đế quốc, kinh Pháp hoa đã được sao chép và tôn kính như một phần của tạng Kanjur , bộ tuyển tập giáo pháp của Đức Phật được dịch sang Tạng ngữ.

NSGN - Kinh Pháp hoa giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử và văn hóa Phật giáo Tây Tạng. Được dịch chính thức vào thời kỳ đế quốc, kinh Pháp hoa đã được sao chép và tôn kính như một phần của tạng Kanjur , bộ tuyển tập giáo pháp của Đức Phật được dịch sang Tạng ngữ.

Kinh Pháp hoa ở Tây Tạng giai đoạn thế kỷ X-XII

Thời kỳ đế quốc ở Tây Tạng, với sự hỗ trợ tài chính của triều đình cho các cơ sở Phật giáo và các bản dịch được nhà nước chấp thuận, điều mà các học giả Tây Tạng gọi là “thời kỳ truyền bá ban đầu” (snga dar) của Phật giáo ở Tây Tạng, đã kết thúc vào giữa thế kỷ IX với vụ ám sát vị vua Tây Tạng Lang Darma (khoảng năm 842/846 CN). Stoddard (2004: 54) gọi giai đoạn từ giữa thế kỷ IX cho đến khi tái thiết lập Tăng đoàn Phật giáo ở Trung Tây Tạng vào năm 978 CN là thời kỳ “chia cắt Tây Tạng”. Không có sự hỗ trợ của hoàng gia, các ngôi chùa và trường học đã bị đóng cửa, kinh sách bị cất giấu hoặc thất lạc (Stoddard 2004: 55). Tuy nhiên, có một số bằng chứng cho thấy việc thực hành Phật giáo trong nước vẫn tiếp diễn ở các khu vực địa phương. Trong số các thủ bản thế kỷ X từ Đôn Hoàng, phẩm Phổ môn của kinh Pháp hoa được lưu hành như một văn bản độc lập ở cả dạng gấp (P.781, ITJ191) và dạng sách nhỏ (ITJ351 + PT572). Các thủ bản Đôn Hoàng của phẩm này dường như được trích từ bản dịch của Surendrabodhi và sNa nam Ye shes sde được liệt kê trong các danh mục hoàng gia thời kỳ đầu. Những bản văn này là một phần của một bộ sưu tập các thủ bản rộng hơn liên quan đến Bồ-tát Quán Thế Âm ở Đôn Hoàng, mà theo Van Schaik (2006), cho thấy sự hiện diện ở cấp độ phổ biến của lòng sùng kính và thực hành đối với vị Bồ-tát này, cũng như đối với kinh Pháp hoa, vào thời kỳ trước thế kỷ XI của văn hóa Phật giáo Tây Tạng.

Nhìn chung, sự xuất hiện của vị Tăng Ấn Độ, Atiśa Dīpaṃkarasŕījñāna, ở Tây Tạng vào năm 1042 CN đánh dấu sự hồi sinh việc bảo trợ của hoàng gia đối với Tăng đoàn Phật giáo ở đất nước này và sự khởi đầu của giai đoạn mà các sử gia Tây Tạng gọi là thời kỳ hậu truyền bá (bstan pa phyir dar). Một đặc điểm quan trọng của thời kỳ hậu truyền bá là việc thu thập các bản kinh và giáo thuyết Phật giáo Ấn Độ, sự truyền đạt bằng miệng và văn bản các bản kinh và giáo thuyết này đến Tây Tạng, và việc dịch chúng sang tiếng Tây Tạng sau đó. Giai đoạn dịch thuật này đặc biệt chú trọng vào các bộ luận mang tính học thuật về kinh Bát-nhã (Prajñāpāramitā), Trung quán luận (Madhyamaka)Thích lượng luận (Pramāa-vattika), cùng với khối lượng lớn các tài liệu liên quan đến lễ quán đảnh Mật tông và thực hành nghi lễ mà chúng phát triển mạnh dưới triều đại Pāla ở Nam Á (750-1150 CN).

Atiśa giảng dạy một sự kết hợp có hệ thống giữa giáo lý Phật giáo Đại thừa với nghi lễ và thực hành yoga của Kim Cương thừa, cho người Tây Tạng thấy lối sống của một học giả-tu sĩ độc thân và một người tu tập yoga Mật tông như thế nào. Tác phẩm Bodhipathapradīpa (Ngọn đèn soi đường đến giác ngộ) của ông, được biên soạn ở Tây Tạng theo lời thỉnh cầu của các đệ tử, trở nên nổi tiếng vì minh họa cho mô hình thực hành và học thuật này. Những người kế thừa Atiśa được gọi là Bka’-gdamspa (những người tuân theo lời dạy [của Đức Phật]), và đây là trường phái Phật giáo Tây Tạng đầu tiên xuất hiện vào thời kỳ này. Atiśa không trích dẫn kinh Pháp hoa làm văn bản chứng minh trong phần lớn các tác phẩm của mình, bao gồm cả BodhipathapradīpaRatnakaraṇḍodghaamadhyamakopadeśa. Atiśa có trích dẫn kinh Pháp hoa trong chương 18 của tác phẩm Mahāsūtrasamuccaya mà nó phác thảo các loại hoạt động một vị Tăng nên tránh. Ông trích dẫn 18 câu đầu tiên của phẩm 13 kinh Pháp hoa về phẩm hạnh của một vị Tăng Bồ-tát. Atiśa cũng nói rằng sau 39 năm giảng dạy Phật pháp cho các Thanh văn, Đức Phật đã giảng dạy giáo pháp Đại thừa trong kinh Pháp hoa và tiếp tục như thế trong những năm tiếp theo. Câu chuyện này cho thấy Atiśa đề cao vai trò của kinh Pháp hoa trong việc giáo hóa của Đức Phật.

Theo các ghi chép của người Tây Tạng, vào khoảng năm 1050, Atiśa đã tìm thấy một bản kinh quý được gọi là kinh Cột trụ (Bka’ chems ka khol ma), được cho là có niên đại từ thời các vị vua Tây Tạng đầu tiên. Bản kinh này thuật lại cách các kinh sách Phật giáo đã được truyền đến Tây Tạng (Kuijp 2013: 125). Nhiều khả năng là một tác phẩm bản địa của Tây Tạng từ thế kỷ XI, văn bản này bao gồm một danh sách 21 bản kinh liên quan đến việc thờ phụng Bồ-tát Quán Thế Âm. Vị Bồ-tát từ bi Quán Thế Âm (Spyan ras gzigs dbang phyug) có tầm quan trọng lớn đối với lịch sử Phật giáo Tây Tạng. Người Tây Tạng tin rằng họ có một mối liên hệ đặc biệt với Bồ-tát Quán Thế Âm, đấng được cho là hóa thân thành Đức Đạt-lai Lạt-ma và phục vụ nhu cầu và nguyện vọng tâm linh của người Tây Tạng. Bản kinh thứ 16 được liệt kê trong kinh Cột trụ là kinh Pháp hoa. Bằng chứng này chứng minh tầm quan trọng của kinh Pháp hoa như một phần của việc thờ phụng và tôn kính Bồ-tát Quán Thế Âm ít nhất từ ​​thế kỷ XI trở đi trong văn hóa Phật giáo Tây Tạng.

Kinh Pháp hoa trong học thuật Phật giáo Tây Tạng (từ thế kỷ XII trở đi)

Từ thời hậu truyền bá trở đi, các học giả Tây Tạng không thường biên soạn các luận giải về từng bản kinh Đại thừa riêng lẻ. Ngoại trừ những luận giải ngắn về Tâm kinh Bát-nhã, các luận giải dài về từng bản kinh Đại thừa riêng lẻ rất hiếm hoi. Ví dụ, trong 120 tập của bộ tuyển tập các tác phẩm của phái Kadampa được tìm thấy gần đây, bao gồm các tác phẩm của những đệ tử đầu tiên của ngài Atiśa từ thế kỷ XI-XIV, chỉ có một tác phẩm là luận giải về một bản kinh Đại thừa, đó là một luận giải vô danh về một chương trong kinh Lăng-già (Lakāvatārasūtra). Trong giới học thuật Phật giáo Tây Tạng, các luận giải về các tác phẩm Phật giáo Ấn Độ như Abhisamayālakāra, Bodhicaryāvatāra, hay Madhyamakāvatāra, cũng như các luận giải về Mật tông Phật giáo Ấn Độ, phổ biến hơn nhiều. Tôi không tìm thấy bất kỳ luận giải riêng lẻ nào về kinh Pháp hoa do một tác giả người Tây Tạng biên soạn. Thay vào đó, các học giả Phật giáo Tây Tạng thường trích dẫn kinh Pháp hoa như một văn bản chứng minh trong các tác phẩm luận giải của họ để xác nhận các điểm giải thích.

Ví dụ, Gro lung pa Blo gros ’byung gnas (hành hoạt vào nửa sau thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XII) là một vị thầy nổi tiếng phái Kadampa được ca ngợi là “người vô song có đôi mắt nhìn thấy tất cả kinh điển của Đức Phật”. Ông đã viết một trong những tác phẩm sớm nhất và có ảnh hưởng nhất có tiêu đề Giải thích các giai đoạn của con đường dẫn vào viên ngọc quý của giáo pháp Đức Phật (Bde bar gshegs pa’i bstan pa rin po che la ’jug pa’i lam gyi rim pa rnam par bshad pa), được biết đến với tên rút gọn là Các giai đoạn quan trọng của giáo pháp (Bstan rim chen mo). Như Jackson (1996) ghi nhận, mười chương của tác phẩm này phác thảo về con đường Phật giáo “ở một quy mô có lẽ chưa bao giờ được người Tây Tạng thực hiện trước đó”. Tác phẩm này đóng vai trò như một nguồn tư liệu bách khoa, giúp chúng ta hiểu về những phát triển giáo lý và học thuật ban đầu trong những thập kỷ đầu của giai đoạn hậu truyền bá (phyi dar) trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng.

Trong tác phẩm này, Gro lung pa đã trích dẫn kinh Pháp hoa hai lần (2009: 100.16; 125.21). Lần trích dẫn đầu (2009: 100.16) xuất hiện trong chương nói về cách nương tựa vào vị thầy tâm linh, ở đó ông trích dẫn lại các câu thơ từ phẩm 13 (câu 24-35) về cách hành xử đúng đắn của một vị thầy. Những câu thơ này cũng được Śāntideva và Atiśa trích dẫn. Lần trích dẫn thứ hai xuất hiện trong chương nói về việc quán chiếu những khó khăn trong việc đạt được một cuộc sống tự do và có điều kiện thuận lợi. Ông trích dẫn một câu chuyện trong phẩm 25 (phẩm 27 theo bản dịch của Kumārajīva) của kinh Pháp hoa nói về sự khó khăn trong việc gặp được một vị Phật để làm cơ sở chứng minh cho luận điểm của mình.

Một tác phẩm nổi tiếng khác trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng là Trang sức giải thoát quý giá (Dam chos yid bzhin gyi nor bu thar pa rin po che’i rgyan) của Gam-po-pa Sod nams Rin chen (1079-1153). Ở chương đầu tiên nói về Phật tính, Gam-po-pa đề cập đến câu chuyện về người lãnh đạo, các thương nhân và thành phố từ phẩm bảy của kinh Pháp hoa để giải thích rằng tất cả các Thanh văn và Duyên giác cuối cùng đều sẽ thành Phật (2015: 126-127). Ở chương 12 nói về bố thí Ba-la-mật, Gam-po-pa trích dẫn kinh Pháp hoa trong phần thảo luận về việc nên ở một nơi thanh tịnh và an lạc như thế nào khi giảng dạy giáo pháp. Trích dẫn của ông được lấy từ phẩm 19 của kinh Pháp hoa về vị Pháp sư (2015: 160). Ở chương 17 nói về trí tuệ Ba-la-mật, Gam-po-pa trích dẫn kinh Pháp hoa cùng với các kinh khác khi thảo luận về Niết-bàn.

Tsong-kha-pa blo-gsang grags-pa (1357-1419 CN), một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu sắc và sáng tạo nhất trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, đã nhiều lần đề cập đến kinh Pháp hoa trong các tác phẩm của mình. Trong tác phẩm Giải thích rõ ràng về tư tưởng: Một luận giải toàn diện về “Nhập Trung luận” (Dbu ma dgongs pa rab gsal, 2009: 8.1ff), ông trích dẫn kinh Pháp hoa nhưng chủ yếu theo Candrakīrti trong việc giải thích các trích dẫn đó (xem Apple 2016, về Candrakīrti và kinh Pháp hoa). Trong tác phẩm Đại luận về các giai đoạn của con đường đưa đến giác ngộ (Byang chub lam rim che ba), hoàn thành vào năm 1402 và được ca ngợi là “một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất về tư tưởng và thực hành Phật giáo từng được biên soạn ở Tây Tạng” (Ruegg 2000, tr.17), Tsong-kha-pa nhắc đến kinh Pháp hoa ba lần. Sự thảo luận chính đề cập đến kinh Pháp hoa diễn ra ở trong một phần nói về bốn phẩm chất vĩ đại của giáo lý kinh Pháp hoa.

Những phẩm chất này bao gồm: (1) Biết rằng tất cả giáo pháp [của Đức Phật] đều không có mâu thuẫn; (2) Hiểu rằng tất cả kinh điển đều là những hướng dẫn cho việc tu tập; (3) Dễ dàng tìm ra mục đích của giáo pháp Đức Phật; (4) Tự động tránh khỏi những điều đại ác (2000: 46). Trong phần giải thích về “Sự vĩ đại của việc giúp một người tự động tránh khỏi những điều đại ác” (nyes spyod chen po rang ’gags su ’gro ba, 1985: 19.12), Tsong kha pa nói rằng kinh Pháp hoa giải thích rằng tất cả lời dạy của Đức Phật đều trực tiếp hoặc gián tiếp dạy các phương thức để trở thành một vị Phật (2000: 53, 54). Sự thảo luận này dựa trên các bài kệ trong phẩm 2 bản Tạng ngữ của kinh Pháp hoa. Ở nơi thảo luận của Tsong-kha-pa, chúng ta thấy ông trích dẫn kinh Pháp hoa một cách có chọn lọc để biện luận cho sự hiểu biết bao hàm của ông về giáo pháp của Đức Phật.

Ngoài các giai đoạn của giáo pháp/con đường (bstan/lam rim), các học giả Tây Tạng đã dựa vào kinh Pháp hoa để chú giải các thể loại khác. Butön Rinchen Drup (1290-1364 CN) trong tác phẩm Kho tàng kinh điển quý giá, còn được gọi là Lịch sử Phật giáo của Butön, đã trích dẫn kinh Pháp hoa bốn lần (2013, tr.30, 71-72, 133, 181). Lần trích dẫn đầu tiên liên quan đến sự giải thích của Butön về 12 loại kinh điển Phật giáo. Lần trích dẫn thứ hai xuất hiện trong việc thảo luận của Butön về phương pháp giảng dạy Phật pháp, ở đó ông phác thảo các thủ tục cho việc giảng dạy. Ông trích dẫn kinh Pháp hoa (2013: 71-72; Tib. 1988: 41.17-42.11) như một bằng chứng kinh điển về cách thức một vị Pháp sư nên chuẩn bị cho việc giảng dạy, bao gồm cả cách ăn mặc, loại ghế ngồi và thái độ đúng đắn cần rèn luyện khi giảng dạy. Một trích dẫn khác xuất hiện trong một phần của tác phẩm, ở đó Butön phác thảo 12 hành động của một vị Phật. Ông trích dẫn kinh Pháp hoa, cùng với kinh Pitāputrasamāgama (1988: 80-81), như bằng chứng kinh điển cho thấy rằng Đức Phật đã đạt được giác ngộ từ nhiều kiếp trước, rằng chư Phật thực hiện những hành động này như một hình thức của phương tiện thiện xảo. Tuy nhiên, Butön tiếp tục trích dẫn thêm những bản kinh khác, như kinh Lăng-già (Lakāvatārasūtra), để chứng minh rằng những hành động này được thực hiện bởi hóa thân của Đức Phật (sprul sku, nirmāakāya), một khái niệm được nêu ra từ thế kỷ IV trong Diệu pháp liên hoa kinh Ưu-ba-đề-xá của Thế Thân/Vasubandhu (Tamura 2014: 85). Trích dẫn cuối cùng của Butön về kinh Pháp hoa trong tác phẩm lịch sử của ông xuất hiện nơi phần thảo luận về Niết-bàn (2013: 180-182; 1988: 114.10-115.15).

Một trường hợp hiếm hoi về một tác phẩm bằng tiếng Tây Tạng tập trung vào kinh Pháp hoa là bản văn ngắn (khoảng 15 trang) của một học giả phái Sakya, Lạt-ma ’Phags-pa Blo-gros rgyal-mtshan (1235-1280), có tựa đề Bác bỏ sự hiểu lầm về những lời dạy trong kinh Pháp hoa. ’Phags-pa Blo-gros rgyal-mtshan là quốc sư (國師) của Qubilai Qaghan (trị vì 1260-1294) từ năm 1264 đến năm 1270, và sau đó là đế sư (帝師) của Qaghan từ năm 1270 cho đến khi viên tịch (Kuijp 2004: 3). Lạt-ma ’Phags-pa đã biên soạn tác phẩm này theo yêu cầu của học trò Da sman tại tu viện Chu-mig Dpal-gyi sde-chen vào ngày 18-3-1277 (Kuijp 2004: 56, chú thích 164). Trong tác phẩm này, Lạt-ma ‘Phags pa bác bỏ quan điểm của “nhiều Tăng sĩ Trung Quốc” không được nêu tên, những người giải thích tình tiết trong phẩm 11 của kinh Pháp hoa (phẩm 12 theo bản dịch của Kumārajīva) nói về con gái của long vương liên quan đến việc thành tựu Phật quả tức thì (cig car du ’tshang rgya ba). Lạt Ma ‘Phags pa trước tiên trích dẫn kỹ lưỡng phẩm 11 của kinh Pháp hoa, sau đó bác bỏ những cách hiểu sai mà ông nhận thấy bằng cách trích dẫn một số kinh điển Phật giáo, chủ yếu là kinh Thập địa (Daśabhūmikasūtra), để chứng minh rằng con gái của long vương là một Bồ-tát thập địa, người đạt được địa vị của mình nhờ sự tiến bộ qua các giai đoạn, và sau đó biến đổi nữ thân thành nam thân để đạt được Phật quả.

Lạt-ma ’Phags pa kết luận bằng cách khẳng định rằng kinh Pháp hoa dạy tất cả vạn vật đều có một hương vị duy nhất đó là tính Không (chos thams stong pa nyid du ro gcig pa), rằng tất cả các thừa cuối cùng đều là Nhất thừa (theg pa thams cad theg pa gcig tu grub pa), và rằng cốt tủy của kinh Pháp hoa đã được tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai biết đến. Đối với Lạt-ma ’Phags pa, kinh Pháp hoa có ý nghĩa rõ ràng (nges don), mặc dù cách giải thích của bản kinh này như việc chủ trương đốn ngộ là không chính xác. Như Iida (1991: 80-82) nhận xét, các Tăng sĩ Trung Quốc mà Lạt-ma ’Phags pa nhắc đến thì không được nêu danh tính, mặc dù quan điểm của họ tương tự như truyền thống Thiên Thai. Tuy nhiên, như Kuijp (2004) lưu ý, Lạt-ma ’Phags pa vẫn ủng hộ các hình thức Phật giáo Trung Quốc. Quan điểm của Lạt-ma ‘Phags pa về sự giác ngộ dần dần (tiệm ngộ) bắt nguồn từ cách hiểu của truyền thống Tây Tạng về cuộc tranh luận Bsam-yas mà nó bác bỏ quan điểm đốn ngộ của Heshang Moheyan. Ngoài ra, lập luận của Lạt-la ‘Phags pa trong tác phẩm ngắn này rất giống với quan điểm được tìm thấy trong luận giải về kinh Pháp hoa của Khuy Cơ (xem Iida 1991: 81) mà nó ủng hộ quan điểm tiệm ngộ.

Một trường hợp cuối cùng của học thuật Tây Tạng liên quan đến kinh Pháp hoa là học giả Pad-dkar bzang-po thế kỷ XV sống ở tu viện Tsetang. Pad-dkar bzang-po đã viết một khảo sát tổng quát về phần kinh điển của một bộ Kanjur mà nó được hoàn thành sau nhiều năm vào ngày 9-2-1445 (Kuijp 2009: 9). Trong tác phẩm này, Pad-dkar bzang-po đưa ra một khảo sát phân tích về nội dung của mỗi bản kinh và nội dung học thuyết của nó. Trong khảo sát của mình, ông thường tóm tắt nội dung của một bản kinh cụ thể, xác định lập trường triết học của nó, và sau đó “giải đáp những tranh cãi” (rgal lan) liên quan đến bản kinh đó. Pad-dkar bzang-po (2006: 167-169) bắt đầu phần thảo luận về kinh Pháp hoa bằng cách mô tả nó như một bản kinh Đại thừa (theg pa chen po’i mdo) được giảng dạy sau cùng trong ba giai đoạn chuyển pháp luân của Đức Phật.

Ông mô tả sự vĩ đại của địa điểm thuyết giảng kinh Pháp hoa tại núi Linh Thứu, sự ưu việt của thính chúng bao gồm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Bồ-tát, chư thiên và con người, và sự vi diệu của giáo nghĩa kinh Pháp hoa, bao gồm cả sự thâm sâu có thể giúp chúng sinh đạt được giác ngộ Phật quả viên mãn chỉ bằng cách nghe bốn dòng bản kinh này. Pad-dkar bzang-po sau đó phác thảo nội dung của 27 phẩm của kinh Pháp hoa và chỉ ra rằng giáo thuyết (grub mtha’) mà bản kinh này giảng dạy là Du-già - Trung quán (rnal ’byor spyod pa’i dbu ma) (2006:168.16-17). Như đã nói ở trước, điều này có thể liên quan đến việc Kamalaśīla ủng hộ bản kinh này. Pad-dkar bzang-po nhấn mạnh rằng kinh Pháp hoa dạy về một thừa tối thượng duy nhất (theg pa ni mthar thug gcig go) và rằng thứ tự trình bày của nó có liên quan đến khả năng của người tu tập.

Trong phần trả lời các tranh luận (2006: 168.19-169.9), Pad-dkar bzang-po trả lời câu hỏi tại sao kinh Pháp hoa giải thích cách các Thanh văn và Duyên giác sẽ đạt được Phật quả trong khi kinh Sadhinirmocanasūtra dạy rằng các Thanh văn không thể chứng đắc Phật quả và dạy ba thừa riêng biệt. Pad-dkar bzang-po trả lời rằng ba thừa riêng biệt thì không xác định và sau đó giải thích cách các Thanh văn và Duyên giác có thể đạt được Phật quả. Ông kết thúc phần xem xét tổng quan về kinh Pháp hoa bằng một lời cầu nguyện mong rằng công đức của những lời giải thích của ông sẽ giúp những người thực hành Nhất thừa nhanh chóng đạt được Phật quả viên mãn.

Như chúng ta đã thấy ở khảo sát ngắn gọn này về học thuật chú giải truyền thống, các tác giả Tây Tạng đã trích dẫn kinh Pháp hoa cho nhiều mục đích chú giải khác nhau trong các tác phẩm học thuật của họ. Không rõ liệu những tác giả này có ghi nhớ và tụng đọc kinh Pháp hoa như một văn bản độc lập, hay chỉ biết đến các phần quan trọng của bản kinh dựa trên các dòng chú giải học thuật. Dù bằng cách nào đi nữa, kinh Pháp hoa cũng được các học giả Tây Tạng xem như một lời dạy quan trọng trong toàn bộ kinh điển Đại thừa và được trích dẫn trong nhiều bộ luận giải Tây Tạng, vượt ra ngoài phạm vi các nguồn tài liệu ngắn gọn được trình bày ở đây.

Kinh Pháp hoa Tạng ngữ hiếm khi được lưu hành như một văn bản độc lập ở Tây Tạng truyền thống, mặc dù vẫn có người nhận được một thủ bản riêng lẻ của bản kinh này. Vị Tăng người Nhật Ekai Kawaguchi (Hà Khẩu Tuệ Hải/河口慧海, 1866-1945), công dân Nhật Bản đầu tiên được ghi nhận đến thăm Tây Tạng (2 lần, 1900-1902, 1913-1915), đã được tặng một thủ bản kinh Pháp hoa bằng Tạng ngữ tuyệt đẹp. Thủ bản đặc biệt này được thực hiện tại tu viện Tashilunpo (Bkra shis lhun po) ở Shigatse và được mang về Nhật Bản, hiện đang được lưu giữ tại Toyo Bunko (Shoji 2011). Cùng với đó, Khangdkar tshul-khrims skal-bzang đã biên soạn và chỉnh sửa một ấn bản kinh Pháp hoa Tạng ngữ được in tại Nhật Bản (2009). Cả món quà mà Kawaguchi nhận được và sự quan tâm của Khang-dkar đối với các phiên bản kinh Pháp hoa được in độc lập bằng tiếng Tây Tạng, tách biệt với tạng Kanjur của Tây Tạng, nhiều khả năng phản ánh mối quan tâm văn hóa Phật giáo Nhật Bản hơn là của Tây Tạng.

Điều này là bởi trong đời sống nghi lễ Phật giáo Tây Tạng truyền thống, kinh Pháp hoa được tôn kính, nhưng như một phần của nghi lễ thờ phụng lớn hơn cùng với khoảng một trăm tập mà chúng tạo nên một bộ Kanjur Tây Tạng (Childs 2005). Kinh Pháp hoa trong các tạng Kanjur ngày nay là một phần của một tập bên trong một bộ lớn hơn cùng với các bản kinh khác. Trong văn hóa Phật giáo Tây Tạng, tạng Kanjur được coi là lời nói hiện thân của Đức Phật dưới dạng văn bản và đại diện cho những lời dạy mạnh mẽ và có sức chuyển hóa của Ngài. Một tạng Kanjur thường được cất giữ trong một ngôi chùa hoặc tu viện địa phương ở trong những hóc tường được xây dựng đặc biệt, ở đó mỗi cuốn kinh được bọc riêng bằng vải và được lưu trữ. Trong văn hóa Phật giáo Tây Tạng, sự hiện diện vật lý của một tạng Kanjur truyền tải sự thiêng liêng khi được nhìn thấy, chạm vào hoặc nghe thấy khi được tụng niệm, bất kể có sự lĩnh hội về mặt tinh thần hay không. Về vấn đề này, các tu viện hay ngôi làng Tây Tạng thường tụng đọc toàn bộ tạng Kanjur hàng năm trong một lễ hội được gọi là Kanjur Kora. Sau khi các tập của tạng Kanjur được đưa ra khỏi chùa Kanjur (lha khang) theo nghi lễ, từng tập của tạng Kanjur được phân phát cho các cư sĩ, những người sẽ tụng niệm toàn bộ một tập theo tốc độ của riêng mình. Việc tụng đọc này có thể kéo dài đến chín ngày (Childs 2005:44). Trong lễ hội, các tập của tạng Kanjur cũng có thể được rước quanh một ngôi làng và các cánh đồng nông nghiệp xung quanh để đảm bảo mùa màng bội thu và bảo vệ khỏi thiên tai. Bằng cách này, mặc dù kinh Pháp hoa không được tôn kính như một bản kinh riêng biệt trong giới cư sĩ, nhưng nó được tôn kính như một phần của tạng Kanjur trong thực hành Phật giáo Tây Tạng tại gia.

Kết luận

Kinh Pháp hoa giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử và văn hóa Phật giáo Tây Tạng. Được dịch chính thức vào thời kỳ đế quốc, kinh Pháp hoa đã được sao chép và tôn kính như một phần của tạng Kanjur, bộ tuyển tập giáo pháp của Đức Phật được dịch sang Tạng ngữ. Kinh Pháp hoa đã được các học giả Phật giáo Tây Tạng truyền thống sử dụng qua nhiều thế kỷ để làm cơ sở cho các luận giải và xác nhận quan điểm luận giải của họ. Mặc dù không được tôn kính như một bản kinh riêng biệt, nhưng nó đã và vẫn đang được tụng đọc như một phần của tạng Kanjur trong giới cư sĩ. Kinh Pháp hoa cũng vẫn đang được các vị sư Tây Tạng tích cực giảng dạy. Như vậy, mặc dù kinh Pháp hoa không nhận được sự chú ý và tôn kính như ở trong những hình thức Phật giáo Đông Á, nhưng bản kinh này vẫn giữ một vị trí nhất định trong lịch sử và văn hóa Phật giáo Tây Tạng.

------------

Nguồn: academia.edu

(1)James B. Apple là giáo sư về nghiên cứu Phật học tại Đại học Calgary, Canada.

(2)KN, 278.8-281.7; Tib. P. Chu 120a5-121a1; Khangkar 2009:280-281; Śikṣāsamuccaya 47.13- 49.4; cf. Mochizuki 2002: 28-29.

(3)Jo bo rin po che rje dpal ldan a ti sha’i rnam thar rgyas pa yongs grags bzhugs so, 2014, pp.65-205 in Jo bo rje dpal ldan a ti sha’i rnam thar phyogs bsgrigs, Lhasa: Bod ljongs mi dmangs dpe skrun khang, p.159: De nas lo sum cu’i bar du padma dkar po la sogs pa theg pa chen po’i chos [159.20] bshad/; “Then, for thirty years he taught the Mahāyāna Dharma of the Lotus Sutra [lit. White Lotus] and so forth”.

(4)20 bản kinh được liệt kê từ mKhas pa’i dga’ ston (2006:99.14-20): Gtso bor thugs rje chen po’i mdo rgyud nyi shu rtsa gcig bsgyur te bka’ chems kyi lo rgyus chen mo las/ (1) Za ma tog bkod pa/ (2) Phyag stong spyan stong gi gzungs/ (3) Padma snying po’I mdo/ (4) Zhal bcu gcig pa’i mdo/ (5) Bcu gcig zhal gyi gzungs/ (6) Don yod zhags pa/ (7) Don zhags phyi ma/ (8) Padma mchog/ (9) Dbang bsgyur ’khor lo/ (10) Cho ga sngags kyi rgyud/ (11) Yid bzhin nor bu’i gzungs/ (12) Snying rje chen po mi gshol pa/ (13) ’Od zer rnam bkod/ (14) Padma cod pan gyi rgyud/ (15) Ye ge drug pa’i mdo/ (16) Dam chos pad dkar/ (17) Puṇḍa ri ka’i mdo/ (18) Chu klung sna tshogs pa’i mdo/ (19) Snang pa rol ba’I mdo/ (20) Mtshan brgya rtsa brgyad/ (21) Mtshan rab yongs su bstan pa’i mdo ste/ Nyer gcig pa yin la ’di las don ’di ltar bshad pa’ang bka’ chems lo rgyus na yod do/.

(5)The ’Phags pa lang dkar bshegs pa’i mdo las sangs rgyas thams cad kyi gsung gi snying po zhes bya ba’i le’u rgya chen ’grel pa’i rab tu byed pa, Bka’ gdams gsung ’bum, volume 109, pp.5-560.

(6)Điều này không có nghĩa rằng các học giả, giảng sư, thiền giả Tây Tạng không nghiên cứu, tụng đọc hay truyền dạy các kinh điển Đại thừa riêng lẻ. Ở đây tôi chỉ muốn nói rằng các học giả Tây Tạng không thường xuyên biên soạn các luận giải sâu rộng về các kinh điển Đại thừa riêng lẻ.

(7)Gro lung pa blo gros ’byung gnas (2009: i, preface): Gsung rab kun ka lta ba’i mig/ Zla bral blo gros ’byung gnas dpal//.

(8)Xem Silk (2001: 99-101), về những câu thơ được Śāntideva trích dẫn và sự tương quan giữa kinh Pháp hoa Tạng ngữ và Hán ngữ.

(9)Trích từ “The Previous Life of King Wonderfully Adorned” (Śubhavyūharājapūrvayo gaparivarta), chương thảo luận về việc khó gặp được một vị Phật (D171b; Kangar 2009: 463).

(10)Bu ston chos ’byung (1988:17.17-18): Lung du bstan pa’i sde ni/ Nyan thos ’das te shi ba’I dus byas pa dang ’byung ba lung ston pa dam pa’i chos pad ma dkar po lta bu’am...

(11)Dam chos pad dkar gyi tshig don la gzhan gyi log par rtog pa dgag pa, SSBB Sa skya pa’I bka’ ‘bum comp. Bsod nams rgya mtsho, vol.7 (Tokyo: The Toyo Bunko, 1968), no.233, 215/2-9/111. Về một nghiên cứu và bản dịch tác phẩm này, xem Shotaro Iida (1991: 65-83).

(12)Câu trả lời của Pad-dkar bzang-po dựa trên một đoạn trong Abhisamayālaṃkārālokā của Haribhadra. Về điều này, xem Apple 2008: 83.

(13)Childs 2005: 44.

Tài liệu tham khảo

Apple, James B. 2014a. “The Single Vehicle (ekayāna) in the Avaivartikacakra-sūtra and Lotus sūtra”. 東洋哲学研究所紀要 Bulletin of the Institute of Oriental Philosophy, no.30, pp.13-43.

Apple, James B. 2014b. “Buddhism in Tibetan History”. In Mario Poceski, ed. Blackwell Companion to East and Inner Asian Buddhism. Oxford: Blackwell Publishing, pp.104-123.

Apple, James B. 2016. “Candrakīrti and the Lotus sutra”. 東洋哲学研究所紀要 Bulletin of the Institute of Oriental Philosophy, 31: 97-122.

Barnett, L.D. and August Hermann Francke. 1907. “Tibetan Manuscripts and Graffiti Discovered by Dr. M.A. Stein At Endere”. In Ancient Khotan, edited by M. A[urel] Stein. 548-69 (Appendix N).

Beckwith, Christopher I. 1987. The Tibetan Empire in Central Asia: A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages. Princeton, N.J.: Princeton University Press.

Boucher, Daniel. 2006. “Dharmarakṣa and the Transmission of Buddhism to China”. China at the Crossroads: A Festschrift in Honor of Victor H. Mair. Special Issue of Asia Major, 3rd ser., 19.1-2: pp.13-37.

Buswell, Robert E and Donald S Lopez, Jr. 2014. The Princeton dictionary of Buddhism. Princeton, N.J.: Princeton University Press.

Cantwell, Cathy, and Robert Mayer. 2007. The Kīlaya Nirvāa Tantra and the Vajra Wrath Tantra: Two Texts from the Ancient Tantra Collection. Wien: Verlag der Österreichischen Akademie der Wissenschaften.

D = Dergé Kanjur. 1976-1979. Edited by Chos kyi ‘byung gnas. Bka’ ’gyur (sde dge par phud). Tibetan Buddhist Resources Center, TBRC W22084. 103 vols. Delhi: Delhi karmapae chodhey gyalwae sungrab partun khang. http://tbrc.org/link?RID=W22084.

Dar rgyas, Khyung phrug blo bzang. 2015. Bsam yas chos rtsod lta grub kyi dpyad pa byis pa dgod pa’i rdzun rkong. Krung go’i bod rig pa dpe skrung khang.

Demiéville, Paul. 1952. Le concile de Lhasa; une controverse sur le quiétisme entre bouddhistes de l’Inde et de la Chine au VIII. siècle de l’ère chrétienne. Bibliothèque de l’Institut des hautes études chinoises, v. 7. Paris: Impr. nationale de France.

Herrmann-Pfandt, Adelheid. 2008. Die Lhan kar ma: ein früher Katalog der ins Tibetische übersetzten buddhistischen Texte. Wien: Verl. der Österr. Akad. Der Wiss.

Ishikawa, Mie 石川美恵, ed. 1990. A Critical Edition of the sGra sbyor bam po gñis pa: An Old and Basic Commentary on the Mahāvyutpatti. Studia Tibetica 18. Tokyo: The Toyo Bunko.

Kamalaśīla (8th century). Madhyamakāloka (Dbu ma snang ba). Tôh. no. 3887. Dergé Tanjur, vol. Sa, folios 133 v.4-244r.7. Tr. by Śīlendrabodhi and Dpal brtsegs rakshi ta.

Kapstein, Matthew. 2000. The Tibetan Assimilation of Buddhism: Conversion, Contestation, and Memory. Oxford: Oxford University Press.

Kapstein, Matthew. 2006. The Tibetans. Malden, MA: Blackwell Pub.

Karashima, Seishi 辛嶋静志. 1992. The Textual Study of the Chinese Versions of the Saddharmapuṇḍarīkasūtra in the Light of the Sanskrit and Tibetan Versions. Tokyo: Sankibo.

Karashima, Seishi 辛嶋静志. 2005. “An Old Tibetan Translation of the Lotus Sutra from Khotan”. Annual Report of The International Research Institute for Advanced Buddhology 8: 105-190.

Karashima, Seishi 辛嶋静志. 2007. “An Old Tibetan Translation of the Lotus Sutra from Khotan: The Romanised Text Collated with the Kanjur Version (3)”. Annual Report of the International Research Institute for Advanced Buddhology at Soka University for the Academic Year 2006, vol.10, pp.213-324.

Keira, Ryusei 計良龍成. 2004. Mādhyamika and Epistemology: A Study of Kamalaśīla’s Method for Proving the Voidness of All Dharmas. Wien: Arbeitskreis für tibetische und buddhistische Studien Universität Wien.

KN = Saddharmapuṇḍarīkasūtra, ed. by Hendrik Kern and Bunyiu Nanjio 南條文雄, St. Petersburg 1908-12: Académie Imperiale des Sciences (Bibliotheca Buddhica X); Reprint: Tokyo 1977: Meicho-Fukyū-Kai.

Lopez, Donald S., Jr. 2016. The Lotus Sūtra A Biography. Princeton, N.J.; Princeton University Press.

Pagel, Ulrich. 2007. “The Dhāraṇīs of Mahāvyutpatti # 748: Origin and Formation”. Buddhist Studies Review, 24 (2), pp.151-191.

Richardson, Hugh Edward, and Michael Aris. 1998. High Peaks, Pure Earth: Collected Writings on Tibetan History and Culture. London: Serindia Publications.

Rong, Xinjiang 榮新江, and Imre Galambos. 2013. Eighteen Lectures on Dunhuang. Boston: Brill.

Ruegg, David Seyfort. 1979. “[Untitled]”. In Journal of the American Oriental Society, 99 , no.2: 343-345. American Oriental Society. Review of Saddharmapuṇḍarīka-Sūtra (Kashgar Manuscript), edited by Lokesh Chandra, and Note on the Kashgar Manuscript of the Saddharmapuṇḍarīka by Hirofumi Toda.

Saddharmapuṇḍarīka -nāma-mahāyānasūtra (Dam pa’i chos padma dkar po zhes bya ba theg pa chen po’i mdo). Tôh. no.113. Dergé Kanjur, vol.JA, folios 1v.1-180v.7. Tr. by Surendrabodhi and Sna nam Ye shes sde.

Sakaki, Ryōzaburo 榊亮三郎. 1962. Bonzō Kanwa shiyaku taikō hon’yaku meigi daishū (Mahāvyutpatti with four translations in Sanskrit, Tibetan, Chinese and Japanese) 梵蔵漢和四訳対校 翻訳名義大集, 2 vols. Kyōto: Suzuki Research Foundation. Originally published Tokyo: Shingonshū Kyōto Daigaku, 1925. Sanskrit index complied by Kyōo Nishio 西尾京雄, 1936.

Scherrer-Schaub, Cristina Anna. 2002. “Enacting Words: A Diplomatic Analysis of the Imperial Decrees (bkas bcad) and Their Application in the sGra sbyor bam po gñyis pa Tradition”. Journal of the International Association of Buddhist Studies 5.1-2, pp.263-340.

Simonsson, Nils. 1957. Indo-Tibetische Studien: die Methoden der Tibetischen Übersetzer, untersucht im Hinblick auf die Bedeutung ihrer Übersetzungen für die Sanskritphilologie, 1. Uppsala: Almqvist & Wiksells.

Skilling, Peter. ed. 1994. Mahāsūtras: Great Discourses of the Buddha. Volume I: Texts. Oxford: The Pali Text Society.

Sørensen, Per K. 1994. The Mirror Illuminating the Royal Genealogies: Tibetan Buddhist Historiography: An Annotated Translation of the XIVth Century Tibetan Chronicle: RGyal-Rabs Gsal-Ba’i Me-Long. Asiatische Forschungen, Bd. 128. Wiesbaden: Harrassowitz.

Sparham, Gareth. 2008-2013. Golden Garland of Eloquence. Four volumes. Fremont, Calif: Jain Pub. Co.

Stoddard, Heather. 2004. “‘Rekindling the Flame’. A Note on Royal Patronage in Tenth Century Tibet”. In Christoph Cüppers (ed.), The Relationship between Religion and State (chos srid zung ’brel) in Traditional Tibet. Lumbini: Lumbini International Research Institute, pp.49-104.

Ueyama, Daishun 上山大峻. 2012. Zōho Tonkō bukkyō no kenkyū 増補 敦煌佛教の研究 [Study on Buddhism in Dunhuang, An enlarged edition]. Kyoto: Hōzōkan.

Wangdu, Pasang, Hildegard Diemberger, and Per K. Sørensen. 2000. DBa’ bzhed = Dba’ bz´ ed: the royal narrative concerning the bringing of the Buddha’s doctrine to Tibet. Wien: Verlag der Österreichischen Akademie der Wissenschaften.

(NSGN 362)

Nguồn: giacngo.vn

Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa