Khái quát về Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Ông là nhân vật Phật giáo đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam: Từ vị vua anh minh đến Phật hoàng khai sáng Trúc Lâm thiền phái.
Ông là nhân vật Phật giáo đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam: Từ vị vua anh minh đến Phật hoàng khai sáng Trúc Lâm thiền phái.

>> Xây dựng và phát triển Trúc Lâm thiền phái: Từ Tam tổ đến danh tăng đương đại
Tuổi trẻ và sự nghiệp trị vì
Trần Nhân Tông sinh năm 1258, ngay từ khi chào đời đã được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mô tả với tướng mạo khác thường, thần thái tươi sáng như bậc thánh nhân. Được vua cha Trần Thánh Tông đích thân biên soạn sách Di Hậu Lục để dạy dỗ cách xử thế, đồng thời học đạo Thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, người anh họ có ảnh hưởng tư tưởng sâu sắc đến ông sau này.
Lên ngôi giữa lúc đất nước đối mặt hiểm họa xâm lăng, Trần Nhân Tông đã hai lần cùng vua cha và các tướng lĩnh lãnh đạo quân dân đánh tan quân Nguyên Mông vào các năm 1285 và 1287-1288, giữ vững nền độc lập dân tộc. Sau khi non sông thái bình, ông tiếp tục xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chúng an cư lạc nghiệp.

Con đường xuất gia
Năm 1293, ở tuổi 41, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lui về làm Thái Thượng Hoàng. Năm 1294, ông vẫn còn cầm quân chinh phạt Ai Lao để giữ yên bờ cõi. Sau khi hoàn thành trách nhiệm với xã tắc, ông trở về hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình), cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ xuất gia, bắt đầu những bước tu tập đầu tiên.
Tháng 10 năm Kỷ Hợi (1299), ông rời kinh thành Thăng Long lần cuối, thẳng tiến lên núi Yên Tử (Quảng Ninh), quyết chí tu hạnh đầu đà (khổ hạnh), lấy đạo hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, sau này được tôn xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ hay Điều Ngự Giác Hoàng.
Sáng lập Thiền phái Trúc Lâm
Tại Yên Tử, ông đã khéo léo thống nhất ba dòng thiền có từ trước là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thành một dòng thiền mang bản sắc riêng của Đại Việt, đồng thời dung hợp cả Nho giáo, Lão giáo vào tư tưởng Phật giáo theo tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Tư tưởng nhập thế “cư trần lạc đạo”, “hòa quang đồng trần” trở thành cốt lõi xuyên suốt của dòng thiền này.
Ông lập chùa, cất tinh xá, khai giảng độ tăng khiến người học quy tụ rất đông. Ngoài Yên Tử, ông còn đến chùa Phổ Minh (Nam Định) lập giảng đường dạy học nhiều năm, sau đó vân du đến trại Bố Chính (Quảng Bình) lập am Tri Kiến để tiếp tục hoằng dương Phật pháp. Trong thời gian này, ông cũng độ đệ tử Đồng Kiên Cương, ban pháp hiệu Pháp Loa, người sau này kế thừa vị trí Nhị tổ.

Di sản để lại
Trần Nhân Tông chủ trì việc khắc in Đại Tạng Kinh và biên soạn nhiều kinh sách, ngữ lục, trong đó nổi bật là “Cư Trần Lạc Đạo Phú”, tác phẩm thể hiện rõ nhất tinh thần sống giữa đời mà vẫn vui với đạo.
Năm 1308, sau nhiều năm xuất gia tu tập, ông viên tịch tại đỉnh Ngọa Vân, núi Yên Tử. Xá lợi của ông được chia làm hai phần, một đặt tại Đắc Lăng (Long Hưng), một đặt tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử.
Được người đời sau tôn xưng là Phật hoàng, Trần Nhân Tông trở thành hình mẫu hiếm có trong lịch sử: một vị vua anh minh, một nhà quân sự và ngoại giao tài ba, đồng thời là một thiền sư, thi sĩ để lại dấu ấn sâu đậm cho cả dân tộc lẫn Phật giáo Việt Nam.
Nguồn: phatgiao.org.vn
Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa
![[Ảnh] Ban Kiến đàn cung thỉnh giới bổn và di ảnh Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Kiểm về Việt Nam Quốc Tự](https://cdn-gameportal.qimbot.com/crawled/6c06981215cc49c8.webp)
[Ảnh] Ban Kiến đàn cung thỉnh giới bổn và di ảnh Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Kiểm về Việt Nam Quốc Tự

Trao quyết định chuẩn y nhân sự Ban Hoằng pháp - Hướng dẫn Phật tử GHPGVN TP.Đồng Nai

Trang nghiêm khai mạc Đại giới đàn Thanh Kiểm Phật lịch 2570 tại Việt Nam Quốc Tự

Ngược đãi động vật gây ra nghiệp gì?

Cơn giận của các bậc hiền triết

