Luật Mật Viện Thắng Nghiêm38 Khúc Thuỷ, xã Bình Minh, Tp. Hà Nội
Chùa Thắng Nghiêm
Tin tức nhà chùa

Hộp thờ xá-lợi – loại hình gốm tâm linh đặc biệt thời Lý

Tác giả: Ban biên tập14:00 16/06/20264 lượt xem
Chia sẻ:

GNO - Xem xét đề tài trang trí trên nắp, thân và đế của các đồ gốm này chúng tôi đều thấy thể hiện đề tài cánh sen làm trung tâm. Hoa sen biểu trưng cho Phật giáo là quốc giáo thời kỳ này: hình tượng hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao gắn liền với sự đản sinh của Đức Phật.

GNO - Xem xét đề tài trang trí trên nắp, thân và đế của các đồ gốm này chúng tôi đều thấy thể hiện đề tài cánh sen làm trung tâm. Hoa sen biểu trưng cho Phật giáo là quốc giáo thời kỳ này: hình tượng hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao gắn liền với sự đản sinh của Đức Phật.

Hình dáng của những đồ gốm này cùng với các băng hoa văn vòng tròn nhỏ và vạch thẳng song song như còn mang lưu ảnh của những chiếc thạp đồng Đông Sơn cách đó cả nghìn năm trước. Có thể xem những đồ gốm này như một truyền thống nối tiếp trong thời đại “phục hưng” của văn minh Đại Việt.

Bài trên Báo Giác Ngộ số 1353 - Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn
Bài trên Báo Giác Ngộ số 1353 - Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn

Năm 2005 chúng tôi đã xuất bản cuốn sách chuyên khảo Gốm hoa nâu Việt Nam giới thiệu về các loại hình đồ gốm hoa nâu thuộc đồ gia dụng như ấm, ang, bát, bình, chậu, chân đèn, đài sen, đĩa, liễn, lọ v.v… Trong số này, loại hình liễn đáng chú ý nhất, có kiểu dáng phong phú nhất với 5 nhóm gồm 19 kiểu (Phạm Quốc Quân & Nguyễn Đình Chiến, BTLSVN xuất bản, Hà Nội, 2005, tr.26-27). Từ khi xuất bản sách đến nay chúng tôi lại biết thêm nhiều đồ gốm hoa nâu thời Lý khác thuộc loại hình liễn, hũ hay bình, nhưng đều có chung kiểu nắp đặc biệt với chỏm nắp hình đài sen có lỗ thủng ở chính giữa. Đây là điều thôi thúc chúng tôi nghiên cứu tìm hiểu sâu thêm để lý giải hiện tượng này.

Tiếng nói từ cổ vật

Dưới đây là những đồ gốm hoa nâu thời Lý đã được công bố ở trong và ngoài nước mà chúng tôi tập hợp như sau:

- Chiếc thứ nhất là “liễn gốm hoa nâu” có nắp, cao 23cm, do Bảo tàng Nghệ thuật châu Á San Francisco lưu giữ được in trong sách (Stevenson, Jonh and Jonh Guy, Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition, 203, Chicago: Art Media Resources with Avery press, 1997). Liễn có nắp hình chỏm cầu hơi dẹt, chỏm nắp hình đài sen 2 tầng cánh nổi, có lỗ thủng chính giữa, đặt trên băng cánh sen nổi. Trên mặt nắp còn có các băng vòng tròn nhỏ tô men nâu. Thân liễn tạo hình trụ, phía trên và dưới chạm 2 băng cánh sen nổi, cánh to xen nhỏ, xung quanh thân chia đều 10 ô hình chữ nhật, có các góc cong tạo cho thân liễn giống như tòa sen 10 cánh. Phía dưới chân liễn là những tượng em nhỏ, tư thế quỳ 2 chân nhún mình, 2 tay nâng thân liễn. Có thể gọi đây là hình “những em bé của thế giới Cực lạc” (Tống Trung Tín, Nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời Lý và thời Trần thế kỷ XI–XIV, NXB KHXH, Hà Nội, 1997, tr.60).

- Chiếc thứ hai là “liễn gốm hoa nâu” có nắp, cao 35,5cm, đường kính miệng 24cm, trong sưu tập Nguyễn Văn Dòng ở TP.Hồ Chí Minh (Phạm Quốc Quân & Nguyễn Đình Chiến, Gốm hoa nâu Việt Nam, tr.140). Chiếc liễn này thuộc loại đáy bằng để mộc. Nắp liễn hình chỏm cầu hơi dẹt, chỏm nắp tạo hình đài sen 3 tầng cánh sen nổi, có lỗ thủng chính giữa, đặt trên băng cánh sen bao xung quanh. Thân liễn tạo gờ miệng vát, vai phình, thân thuôn. Trên vai liễn gắn 8 quai ngang và chạm đắp băng cánh sen nổi, cánh to xen nhỏ. Quanh thân liễn chia đều 8 ô hình chữ nhật tạo cho thân liễn giống như tòa sen 8 cánh. Trên thân liễn còn khắc 2 băng vòng tròn nhỏ tô nâu như 2 đai vòng quanh, chia mỗi ô thành 3 tầng khắc và tô men nâu: vân mây hình khánh, hoa sen dây và hoa chanh. Liễn phủ men vàng ngà và men nâu.

Chiếc "bình gốm hoa nâu" được Thủ tướng Chính phủ công nhận Bảo vật Quốc gia ngày 18-1-2024
Chiếc "bình gốm hoa nâu" được Thủ tướng Chính phủ công nhận Bảo vật Quốc gia ngày 18-1-2024

- Chiếc thứ ba là “hũ gốm đựng rượu” có nắp, cao 31,5cm, đường kính miệng 31cm, trong sưu tập Đinh Thế Hùng ở Ninh Bình (Hội cổ vật Tràng An Ninh Bình 2023: 44-45). Điều đáng chú ý ở đây chính là cấu trúc, kiểu dáng chiếc hũ lại tương đồng với 2 chiếc liễn có nắp nêu trên. Nắp hũ gồm 2 phần rời, lắp khớp lại thành hình chỏm cầu hơi dẹt. Chỏm nắp tạo hình đài sen 2 tầng cánh nổi, có lỗ thủng chính giữa, đặt trên băng cánh sen nổi bao xung quanh. Trên nắp hũ còn khắc một băng vòng tròn nhỏ. Thân hũ tạo gờ miệng vát, vai chạm đắp băng cánh sen nổi, cánh to xen nhỏ và băng vạch ngắn song song. Hũ có thân hơi phình, chia đều 8 ô hình chữ nhật, có các góc cong tạo cho thân liễn giống như tòa sen 8 cánh. Chân đế hũ tạo hình đài sen nổi, cánh to xen nhỏ. Phía dưới là băng 9 tượng em nhỏ, tư thế quỳ, 2 chân nhún mình, 2 tay nâng thân liễn. Hàng tượng nhỏ này đặt trên mặt tròn, rìa cạnh khắc 2 băng vạch ngắn song song và băng vòng tròn nhỏ. Lớp men phủ trắng ngà và điểm men nâu đã bong tróc nay còn dấu vết màu vàng xám.

- Chiếc thứ tư là “bình gốm hoa nâu” có nắp, cao 25,5cm, đường kính miệng 22,7cm, trong sưu tập Trần Đình Thăng ở TP.Hải Phòng. (Kerry Nguyen - Long & Nguyen Dinh Chien, Ly - Tran Ceramics from the An Bien Collection, Arts of Asia, 2023, tr.138). Tuy bình có cấu trúc tương đồng so với 2 chiếc liễn và chiếc hũ trên đây nhưng về chi tiết có những nét khác biệt. Bình có nắp hình cầu dẹt, vành miệng hơi loe. Chỏm nắp tạo hình đài sen 3 tầng cánh nổi, có lỗ thủng chính giữa, đặt trên băng cánh sen nổi bao xung quanh. Trên gờ viền đài sen chỏm nắp chạm khắc băng các vòng tròn nhỏ men trắng và men nâu xen kẽ nhau giữa 2 đường chỉ men nâu. Ở khoảng giữa trên mặt nắp khắc băng vân đặc biệt gồm những hạt tròn như những hạt cườm trắng và nâu xen kẽ nhau giữa 2 đường chỉ nổi song song. Bình có gờ miệng đứng lắp khớp với nắp. Thân bình dáng hình trụ, thành cong, phía trên nở, phía dưới thuôn, tạo cho mặt cắt dọc của bình là hình thang cân. Vai bình chạm đắp băng cánh sen nổi rất đều nhau, cánh to xen nhỏ cùng với băng vạch ngắn song song bên dưới.

Xung quanh thân bình chia 10 ô đều nhau hình chữ nhật, có các góc cong tạo cho thân bình giống như tòa sen 10 cánh. Giữa các cánh có viền tô nâu. Chân đế bình tạo hình đài sen nổi đặt trên mặt tròn, đáy lõm để mộc. Đài sen với cấu trúc gồm 4 băng vân nổi: băng vạch ngắn song song; băng cánh sen nổi, cánh to xen nhỏ; băng vòng tròn trắng và nâu xen kẽ và băng cánh sen kép nổi đầu cánh nhọn. Viền dưới băng cánh sen tô men nâu.

Chiếc “bình gốm hoa nâu” này đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận Bảo vật Quốc gia theo QĐ 73/QĐ-TTg ngày 18-1-2024.

Như vậy, với 4 trường hợp đồ gốm hoa nâu đặc biệt thời Lý như trên, dù công bố ở trong hay ngoài nước, chúng ta đều thấy vấn đề không thống nhất về tên gọi và công năng nào phù hợp nhất với bối cảnh lịch sử đương thời. Theo chúng tôi, việc định danh tên gọi của mỗi hiện vật gốm thông thường phải xuất phát từ công năng sử dụng theo tập quán của mỗi dân tộc. Gọi là liễn hay âu phù hợp với loại hình đồ gia dụng, để đựng thực phẩm phục vụ sinh hoạt trong mỗi gia đình. Cũng giống như 2 trường hợp “hũ gốm đựng rượu” có nắp, trong sưu tập Đinh Thế Hùng và “bình gốm hoa nâu” có nắp, trong sưu tập Trần Đình Thăng, phần nắp các đồ gốm này đều có sự trùng lặp với 2 chiếc liễn. Cụ thể là các đồ gốm này đều có chỏm núm nắp tạo hình bông sen 2 hay 3 lớp cánh, mô tả đóa hoa sen mãn khai, rỗng giữa, thông với thân ở phần dưới. Hiện tượng này đặt ra câu hỏi về công năng và ý nghĩa thống nhất nào đó của nhóm đồ gốm hoa nâu này và một định danh chung nào khác?

Lỗ thông linh trên nắp bình gốm là căn cứ xác định công năng dùng để đặt xá-lợi
Lỗ thông linh trên nắp bình gốm là căn cứ xác định công năng dùng để đặt xá-lợi

Bối cảnh Phật giáo thời Lý

Để tìm câu trả lời, chúng tôi muốn đặt những đồ gốm này trong khung cảnh Phật giáo thời Lý. Sự hưng thịnh của đạo Phật thời Lý biểu hiện rõ nhất ở tổ chức Tăng đoàn. Không chỉ có số lượng Phật tử đông đảo (hầu như trên cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều hướng theo đạo Phật) mà Tăng đoàn còn có nguồn ruộng đất và tài sản riêng rất lớn. Một số Tăng sĩ đắc đạo và có học vấn uyên bác thời kỳ này được các vua Lý hết sức trọng dụng. Có vị là thầy dạy của vua và được phong làm Quốc sư. Dưới thời Lý, một loạt nhà sư được ban hiệu Quốc sư như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Viên Thông, Không Lộ. Vai trò chủ yếu của các Quốc sư thời Lý là cố vấn đắc lực giúp vua hiểu biết về giáo lý đạo Phật, ngoài ra khi cần, các Quốc sư còn cố vấn cho vua những vấn đề về chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa...

Xét về niềm tin tôn giáo, các vua thời Lý rất sùng đạo. Bản thân một số vua được tôn là Tổ của các phái thiền. Vua Lý Thái Tông thuộc thế hệ thứ 8 thiền phái Vô Ngôn Thông. Vua Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ 2 thiền phái Thảo Đường. “Phật giáo thời Lý đã làm nên một trang sử vẻ vang, huy hoàng trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Phật giáo thời Lý đã đóng góp vào việc xây dựng nền văn minh Đại Việt thịnh trị trong hơn hai thế kỷ” (Lê Thị Cúc, Vai trò của Phật giáo thời Lý và sự phát triển văn minh Đại Việt, 2018, thuvienhoasen). Dưới thời Lý đạo Phật trở thành quốc giáo, trên đất nước “chỗ nào cũng có chùa”, “chuông trống chiếm đến nửa phần so với dân cư”. Nhiều ngôi chùa tháp được triều đình đầu tư xây dựng quy mô như tháp Báo Thiên, chùa Sùng Khánh ở Thăng Long, tháp Phật Tích trên núi Tiên Du ở Bắc Ninh, tháp Chương Sơn trên núi Phương Nhi ở Nam Định, tháp Tường Long ở chùa Vân Bản, Đồ Sơn, Hải Phòng... Ngoài việc thờ phụng tượng Phật trong chùa, tháp, trong các chùa còn thờ hình tượng Đức Phật tôn kính qua bức tranh chữ Phật (佛). “Năm Tân Hợi, niên hiệu Thần Vũ 3 (1071): Mùa xuân, tháng Giêng, vua Lý Thánh Tông viết bia chữ Phật dài 1 trượng 6 thước để ở chùa Tiên Du” (Đại Việt sử ký toàn thư, 1972,T 1: 234).

Xem xét đề tài trang trí trên nắp, thân và đế của các đồ gốm này chúng tôi đều thấy thể hiện đề tài cánh sen làm trung tâm. Hoa sen biểu trưng cho Phật giáo là quốc giáo thời kỳ này: Hình tượng hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao gắn liền với sự đản sinh của Đức Phật. Hình dáng của những đồ gốm này cùng với các băng hoa văn vòng tròn nhỏ và vạch thẳng song song như còn mang lưu ảnh của những chiếc thạp đồng Đông Sơn cách đó cả nghìn năm trước. Có thể xem những đồ gốm này như một truyền thống nối tiếp trong thời đại “phục hưng” của văn minh Đại Việt.

Khi nghiên cứu trao đổi về công năng của chiếc “bình gốm hoa nâu” có nắp, trong sưu tập Trần Đình Thăng, Phạm Quốc Quân cho rằng: Một lỗ tròn ở giữa núm, thông với thân bình, hẳn là một lỗ thông linh, nhằm kết nối âm - dương, đã cho chúng ta một nhận định chuẩn xác về chức năng đựng xá-lợi của chiếc bình. (Phạm Quốc Quân, 2023:36). Chúng tôi cũng thống nhất cho rằng, không chỉ chiếc “bình gốm này” mà cả “liễn gốm” và “hũ gốm” nêu trên đây, chỏm nắp hình đài sen có lỗ thủng ở giữa, chính là đường thông thiên, gợi mở một không gian vô tận thông linh: Thông cả thiên đường, thấu cùng địa phủ do sự vận hành vô thường và cũng là sự vĩnh hằng của vạn vật, nhân sinh. Lỗ thông linh này chính là căn cứ xác định công năng đích thực của loại hình hộp dùng để đặt xá-lợi đưa vào thờ phụng trong những ngôi chùa hay bảo tháp dưới thời Lý.

Như thế, ngoài mục đích trang trí, thông qua những đồ gốm loại hình này người thợ gốm thời Lý còn biểu đạt, gửi gắm nhân sinh quan về sự sống theo quan niệm tâm linh, cõi giới của Phật giáo. Căn cứ vào hình dáng, cách thức tạo tác với chủ ý để thông giữa chỏm nắp với phần thân và chủ đề hoa văn trang trí gồm các băng cánh sen, vòng tròn nhỏ, băng vạch thẳng song song trên các đồ gốm này, chúng tôi cho rằng đây chính là loại hình gốm tâm linh đặc biệt thời Lý. Loại hình này được tạo tác rất tinh xảo, thuộc dòng đồ gốm tâm linh của Phật giáo triều Lý, là pháp bảo đặt xá-lợi của các thiền sư đã trải qua tu tập viên thành chính quả, được đặt vào nơi thờ phụng trong các bảo tháp hay quốc tự, theo phong tục hỏa thiêu của đạo Phật. Chính vì vậy, theo chúng tôi, tên gọi của những đồ gốm loại hình đặc biệt này nên được định danh là “hộp thờ xá-lợi”.

Nguồn: giacngo.vn

Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa