100 năm Thiền sư Thích Nhất Hạnh: "Hạt mầm năm trước"
Tròn một trăm năm ngày Thầy - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Sư ông Làng Mai biểu hiện, con trở lại với những trang thơ của Thầy. Một trăm năm tưởng chừng rất dài, nhưng khi lặng yên với những tập thơ, con lại thấy “không đi đâu, cũng không cần đến”, bởi thời gian cũng trở nên “không trước cũng không sau”.
Tròn một trăm năm ngày Thầy - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Sư ông Làng Mai biểu hiện, con trở lại với những trang thơ của Thầy. Một trăm năm tưởng chừng rất dài, nhưng khi lặng yên với những tập thơ, con lại thấy “không đi đâu, cũng không cần đến”, bởi thời gian cũng trở nên “không trước cũng không sau”.
Thầy đã đi qua chiến tranh, qua bao khổ đau và mất mát, qua những năm tháng bôn ba nơi “trời phương ngoại”, rồi Thầy trở về với “quê hương đi về trên mỗi bàn chân / bao nhiêu con đường mở ra độ lượng”. Thầy về dạy chúng con những bài học đơn sơ với bước chân, hơi thở, nụ cười và sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại. Đọc thơ Thầy, con được Thầy trao truyền những điều dung dị qua một chiếc lá tía tô, một bông cải vàng, một giọt mưa xuân, một đám mây, một hạt mầm. Lần này, con muốn đi theo hạt mầm ấy để nhìn sâu vào sự sống, nhận ra sự tiếp nối nhiệm mầu của vạn vật trong vũ trụ, và học cách nuôi lớn Thầy trong con.

Trong bài thơ “Vô khứ lai từ”, Thầy viết: “Một buổi mai/ Mơn mởn sắc mầu/ Thấy mình không hề quen hạt mầm năm trước/ Thấy mình không quen gốc cũ”. Con đã dừng rất lâu để ngắm “hạt mầm năm trước”. Hạt của năm trước nay đã không còn là “hạt mầm” nữa. Nó đã nứt vỏ, vươn mình vào lòng đất, bén rễ, thành thân, thành lá. Nếu chỉ đi tìm lại dáng hình xưa, thì quả là “hạt mầm” đã mất. Nhưng Thầy có dạy tập nhìn mọi sự bằng con mắt vô tướng. Hạt mầm vẫn đang biểu hiện ở cái cây. Cũng như “đám mây không bao giờ chết”; mây đã thành cơn mưa rào mùa hạ, mưa thành dòng suối mát trong, rồi có thể trở thành chén trà trong sương sớm. Có lẽ vì vậy, càng ở lại lâu với “hạt mầm năm trước”, con càng thấy trong cái mong manh của một hình hài đang đổi thay đã có sẵn mạch sống âm thầm của sự tiếp nối.
Ngày trước, cái hiểu “vô thường” của con đơn thuần là những gì đổi thay và rời bỏ mình. Nhưng Thầy dạy con rằng chính vì vô thường nên sự sống mới có thể tiếp tục. Nếu hạt mầm không thay đổi, làm sao hạt lớn lên thành cây. Nếu nụ hoa không thay đổi, làm sao có hoa thơm cho đất trời thưởng thức. Nếu một người không thể đổi thay thì người ấy cũng không có cơ hội để chuyển hóa. Vô thường vì thế không chỉ dạy con về mất mát; vô thường còn mở ra một con đường. Con có thể đi qua một nỗi buồn, con có thể nhận diện một tập khí lâu đời của mình. Một người từng vụng về trong thương yêu vẫn có thể làm mới tình thương. Và một hình hài tuy không còn biểu hiện như trước vẫn có thể tiếp tục trong vô số hình thức khác. Đi sâu hơn trong “Vô khứ lai từ”, Thầy viết “Quá khứ tương lai nhìn mặt/ Bên nớ bên ni là một/Nẻo về tiếp nối đường đi.”
Con đọc ba câu ấy trong những ngày này và thấy lòng mình yên trở lại. “Nẻo về” và “đường đi” không còn là hai hướng ngược nhau. Quá khứ và tương lai cũng không hoàn toàn ở hai đầu của thời gian. Hạt mầm năm trước đang có mặt trong chiếc lá hôm nay; chiếc lá hôm nay một ngày kia trở về với đất lại tiếp tục nuôi một mùa cây khác.
Trong bài thơ “Đến đi thong dong”, Thầy viết “Ta vẫn còn, đến đi thong dong/ Có không, còn mất, chẳng băn khoăn/ Bước chân con, hãy về thanh thản/Không tròn, không khuyết, một vầng trăng.” Con rất thương chữ “vẫn còn”. Không phải “còn” là nắm giữ một hình hài bất biến, mà chữ “còn” trong sự tiếp nối. Vầng trăng có lúc tròn, lúc khuyết, nhưng đó chỉ là cái thấy của mình. Khi Thầy dạy cái nhìn vô tướng, cái còn và cái mất trong con bắt đầu thôi hai bờ ngăn cách. Nhờ có vần thơ ấy, con không còn hỏi Thầy đã đi về đâu, mà con biết chắp tay chào Thầy trong một trong một bông hoa đầu mùa mới nở.
Từ hạt mầm của “Vô khứ lai từ”, Thầy lại đưa con đi vào một thế giới rộng hơn của nắng, mưa, đất và sự sống trong “Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt”: “Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân/ Giọt nước cúi xuống hôn Đất, cho hạt cây nẩy Mầm.” Thầy dạy hạt mầm không thể tự mình lớn lên. Trong hạt có đất, trong đất có mưa, trong mưa có nắng. Không một sự sống nào đứng riêng một mình. Thầy dạy về “tương tức” mà không cần dùng tới chữ nghĩa lớn lao. Thầy chỉ để một giọt nước “cúi xuống hôn Đất”. Thầy dạy nhìn sâu vào một sự vật là thấy được muôn vàn điều kiện đang cùng có mặt trong đó. Nhìn một chiếc lá, có thể thấy mây, mưa, mặt trời và đất. Nhìn một con người, có thể thấy cha mẹ, tổ tiên, quê hương, những hạt giống thương yêu, và cả những hạt giống của bạo động, hờn giận, đau khổ. Khi học được cách nhìn ấy, con thấy tình thương trong con được “mở thêm rộng lớn con đường”.
Trong “Cúc cu đúng hẹn”, hạt mầm biểu hiện trong một khu vườn rất Việt Nam. Thầy viết: “Mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt / Hạt đậu năm xưa hé miệng cười / Người đã tới thăm, trăng một túi / Lá tía tô gọi hạt mồng tơi.” Lần trước, con đã đi theo lá tía tô để tìm một quê nhà trong thơ Thầy. Lần này, con ở lại với “đất tâm ướt” và “hạt đậu năm xưa”. Con thương biết mấy hình ảnh một cơn mưa xuân nhè nhẹ làm ướt cả mảnh đất ngoài vườn và mảnh đất trong lòng người. Hạt đậu tưởng đâu cứ im lìm từ năm trước, vậy mà khi đủ mưa nắng, lại “hé miệng cười”. “Mưa xuân nhẹ hạt” đâu chỉ là cơn mưa ngoài vườn cho hạt đậu. Con nghĩ cơn mưa xuân ấy có thể là một người thầy kính quý mà nhờ đầy đủ nhân duyên, con được theo học trong đời; một cuốn sách hay mở ra một con đường hạnh phúc chân thật; một lời pháp giúp hành giả thêm vững chãi trên đường tu; một lời ái ngữ nâng đỡ học trò; hay đôi khi chỉ là một hơi thở nhẹ để mỗi người biết trở về ôm ấp những khổ đau trong lòng. Rồi đến câu “lá tía tô gọi hạt mồng tơi”, con thấy ngay trong khu vườn nhỏ ấy, sự sống cũng đang gọi nhau mà lớn lên. Cái đang xanh có thể gọi cái còn nằm sâu trong đất; cái đã biểu hiện có thể nâng đỡ cái đang chờ đủ duyên để đi lên. Một hạt mầm biết cựa mình đón nắng, và được nâng đỡ bởi một chiếc lá xanh; cũng như trong đời sống, đôi khi sự có mặt lặng yên mà vững chãi của một người có thể giúp một điều tử tế và tốt đẹp bắt đầu nảy mầm nơi người khác.
Khép lại những trang thơ của Thầy, con lại trở về với “hạt mầm năm trước” và thấy Thầy vẫn cùng chúng con “leo đồi thế kỷ”, vẫn tiếp tục gieo hạt cho những mùa sau. Một trăm năm là một dấu mốc của thời gian hữu hạn, nhưng di sản Thầy đã trao truyền vẫn đang được hàng nghìn, hàng vạn học trò tiếp nối; “bàn tay em gieo hạt cho mùa sang năm” bằng tình thương, sự hiểu biết và chính đời sống thực tập của mình.
Thầy từng viết: “Bụt, chư Tổ và Thầy trò mình vẫn còn tiếp tục nắm tay nhau leo đồi thế kỷ.” Và Thầy cũng nhắc: “Nhìn lại đi, Thầy đang ở trong con, và trong từng nụ hoa, chiếc lá.”
Thầy còn dặn: “Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở” và vẫn tin người học trò, dù còn đi về “bên nớ”, rồi cũng sẽ tìm được lối trở về “bên ni”. Một trăm năm sau ngày Thầy biểu hiện, con bỗng thấy cuộc tìm kiếm ấy chưa bao giờ dừng lại. Thầy vẫn đi tìm chúng con trong từng hơi thở, từng bước chân, từng hạt giống lành được đánh thức. Và khi một hạt mầm biết tìm đường về phía nắng, có lẽ mỗi người học trò cũng đang học cách tìm đường trở về với Thầy trong chính mình. Con chắp tay biết ơn Thầy.
Con,
Dương Huyền
Nguồn: phatgiao.org.vn
Tin cùng chuyên mục — Tin tức nhà chùa

Hội thảo về văn hóa Phật giáo trong kỷ nguyên số

Khi chúng ta buông bỏ, tâm hồn trở nên nhẹ nhàng hơn

Phật tử tại gia chỉ giữ năm giới và làm phước, thì có được kết quả gì?

Ra mắt bộ sách kỷ niệm 100 năm Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Chùa Hội Phước, nét đẹp giữa đất sen hồng

