Luật Mật Viện Thắng Nghiêm38 Khúc Thuỷ, xã Bình Minh, Tp. Hà Nội
Chùa Thắng Nghiêm
Phật pháp

An cư cũng là hoằng pháp

Tác giả: Ban biên tập01:00 03/06/20262 lượt xem
Chia sẻ:

GNO - Mùa mưa đến, tiếng sấm vang động trên nền trời, mây đen kéo vần vũ che khuất không gian. Mùa mưa cũng là mùa An cư kiết hạ. Tiếng sấm xa báo hiệu chư vị Tỳ-kheo chuẩn bị những ngày miên mật, chuẩn bị thời khắc riêng cho mình.

GNO - Mùa mưa đến, tiếng sấm vang động trên nền trời, mây đen kéo vần vũ che khuất không gian. Mùa mưa cũng là mùa An cư kiết hạ. Tiếng sấm xa báo hiệu chư vị Tỳ-kheo chuẩn bị những ngày miên mật, chuẩn bị thời khắc riêng cho mình. 

Đóng cửa một khung trời lang thang vô định, tâm ý bớt nhảy nhót xô đẩy theo thế gian. Những đô thị phù hoa, phố phường đầy cám dỗ, không có lý do gì để rong ruổi. Đang trong mùa kiết hạ, đi đâu cũng phải nhớ mình phải trở về. Có một cột mốc để neo giữ, có một tâm niệm để nhắc nhở cố gắng tu tiến hơn. An cư, do đó là khoảng thời gian có ý nghĩa rốt ráo. Hạnh phúc thay, đời sống xuất gia có những mùa an cư vi diệu, đặc biệt, ngoài đời tính tuổi bằng năm sinh, Tỳ-kheo còn có tuổi hạ, gọi là hạ lạp, tính bằng những mùa an cư, một dấu ấn không thể thiếu trong hàng tu sĩ.

Đang trong mùa kiết hạ, đi đâu cũng phải nhớ mình phải trở về. Có một cột mốc để neo giữ, có một tâm niệm để nhắc nhở cố gắng tu tiến hơn. An cư, do đó là khoảng thời gian có ý nghĩa rốt ráo. Hạnh phúc thay, đời sống xuất gia có những mùa an cư vi diệu, đặc biệt, ngoài đời tính tuổi bằng năm sinh, Tỳ-kheo còn có tuổi hạ, gọi là hạ lạp, tính bằng những mùa an cư, một dấu ấn không thể thiếu trong hàng tu sĩ.

Sau khi thành đạo, Phật đi đến vườn Nai, gần Ba-la-nại (Benares), để độ năm vị đệ tử đầu tiên. Ngày trăng tròn mùa mưa bắt đầu, Ngài và các đệ tử an cư ở Lộc Uyển. Một cái cốc lá cất lên cho Ngài, bằng những tàu lá cọ to bản, dày dặn, dựng lên trên nền đất, các đầu lá lèn chặt vào nhau như một mái vòm, đủ chỗ tọa thiền và nghỉ ngơi. Năm vị khất sĩ kia cũng năm cái cốc tương tự, đủ che mưa gió, để an cư trong rừng cây, thanh tịnh và an lạc. Hình ảnh một cái cốc lá hình vòm khiêm tốn, bình dị, là chỗ an cư của Đức Thế Tôn, không thể có nơi nào đẹp hơn, đơn giản hơn. Nghe nói, về sau kiến trúc những ngôi tháp thờ xá-lợi (stupa), thờ hình tượng Phật vào thời kỳ đầu tiên, ở Ấn Độ, mượn hình ảnh hình vòm tròn trịa ấy, cấu tạo gạch đá kiên cố, xây dựng đường nét cong, mềm, trơn tuột với mưa nắng thời gian. Một hình tròn viên mãn như tấm lòng của Đức Thế Tôn.

Mùa hạ đầu tiên này, Phật hóa độ Yasa, một đại công tử con của đại phú gia thành Benares, một thành phố thương mại bậc nhất, người giàu bậc nhất thì đời sống huy hoàng. Chỉ có một chi tiết, vào cái đêm Yasa bỏ nhà đi, đi xa khỏi thành phố, tới khu rừng gần đó, nơi Đức Thế Tôn đang an cư, chàng bỏ đôi dép bằng vàng ở cửa rừng, vào gặp Phật và bỏ nó không suy tính. Sáng hôm sau, ông già đi tìm, thấy đôi dép mới lần ra tung tích. Câu chuyện Yasa xuất gia, làm đệ tử Phật, trở thành khất sĩ ôm bình bát đi khất thực, rồi ở trong một cốc lá. Thành phố xôn xao, thời đó chưa có youtuber, chưa có thế giới mạng, nhưng cũng đủ khiến cho bạn bè, thân hữu của vị khất sĩ thanh niên này bỏ rơi hết tài sản, đi tìm Phật xin xuất gia. Theo sử liệu, vào năm đầu tiên này, Tăng đoàn đã có hơn 60 vị, đều chứng Thánh quả.

Mùa an cư thứ hai, Phật đi về thành Vương Xá, theo lời hứa với vua Bimbisara. Ngay khi đón chào Phật và chư Tăng tại một khu rừng nhỏ gần kinh thành, nhà vua bày tỏ lòng thành kính. Vua nói:

“Trong đời mình, tôi có năm hy vọng lớn; hy vọng sẽ được làm vua; hy vọng một Đức Phật sẽ đến vương quốc của tôi; hy vọng tôi sẽ được gặp Người; hy vọng được nghe Người thuyết pháp; hy vọng được bày tỏ tín tâm với Người. Hôm nay những hy vọng ấy đã thành hiện thực, tôi xin quy y Phật, tôi xin quy y Pháp, tôi xin quy y Tăng”.

Trong năm điều vua kể với Phật, chỉ có một ước muốn được làm vua, còn bốn điều ước muốn thật thánh thiện và hy hữu. Ông đã ra đời trong thời gian có Phật và được gần gũi. Trị vì một vương quốc lớn thời bấy giờ cũng lắm đa đoan, phước lực làm vua cũng không ít tai nạn. Một đời sống phước và họa kề bên nhau.

Thời kinh chiều - Ảnh: Quảng Đạo/BGN

Thời kinh chiều - Ảnh: Quảng Đạo/BGN

Nhà vua là vị thí chủ đầu tiên dâng cúng vườn Trúc Lâm lên Phật và Tăng đoàn. Trước đó, Ngài và chư Tăng chưa có nơi cư trú, chỉ ở tạm trong rừng. Trúc Lâm (Veluvana) là một khu rừng mát, có hồ, ao, suối, có nơi trú ẩn cho các Tỳ-kheo, cũng gần kinh thành thuận tiện cho vua đến nghe pháp. Một chậu nước bằng vàng được đem đến trong lễ dâng cúng. Nhà vua rót nước lên tay Đức Phật, nói:

- Thế Tôn, giống như nước này chảy từ tay tôi sang tay Ngài, rừng Trúc Lâm cũng chuyển từ tay tôi sang tay Ngài.

Chúng ta có từ A-lan-nhã, có nghĩa là một khu vườn. Lúc Đức Phật thụ lãnh vườn này chưa có nhà cửa. Ngày nay Phạn ngữ A-lan-nhã có nghĩa là một tu viện hay chỗ ở của chư Tăng.

Trúc Lâm thích hợp cho đời sống Tăng đoàn, sạch, thoáng mát, dễ đi khất thực mà không ồn náo. Đức Phật ở đó ba mùa an cư liên tiếp. Khu vườn Trúc Lâm truyền cảm hứng cho sự tu tập của chư Tăng. Tại đây Phật thu nhận hóa độ các đại đệ tử như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, cũng là nơi tu tập đầu tiên, huân tập quen đời sống Tăng đoàn cho các vương tử thành Ca-tỳ-la-vệ như A-nan, A-na-luật, Đề-bà Đạt-đa, Nan-đà...

Nếu nói rằng những ngày tháng xuất gia sơ cơ, những mùa an cư đầu đời là dấu ấn khó quên trong đời tu sĩ, Trúc Lâm phải là nơi hạnh phúc nhất trong thời kỳ đầu Phật hoằng hóa. Và an cư cũng có nghĩa là làm cho giáo pháp thấm nhuần lưu bố nhân gian. Như những cơn mưa đầu hạ xua tan oi bức, lời dạy trong mùa an cư, nét tĩnh tọa ôn nhu trong mùa an cư, làm mát dịu mọi khổ đau phiền não.

Nguồn: giacngo.vn

Chia sẻ:

Tin cùng chuyên mục — Phật pháp